Công tác lãnh sự
 
​Nghị định về nghi lễ đối ngoại số 18/2022/NĐ-CP ngày 18/02/2022Xem và tải về tại đây: NĐ 18-CP ve nghi le doi ngoai.pdf
 
​Nghị định quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt NamXem và tải về tại đây: NGhị định 152 ngay năm 2020 của Chính phủ về tuyể, quản lý người Việt Nam.pdf
 
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021 và thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP, Nghị định số 75/2014/NĐ-CP.
 
Ngày 18/01/2022, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 450/VPCP-QHQT về ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đồng ý chủ trương tạo thuận lợi về thủ tục nhập cảnh đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng thân nhân về nước, có hiệu lực từ ngày 19/01/2022. Công văn nêu rõ:
 
​Nghị Quyết Ban hành Chương trình hành động của Chính Phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021-2026Nghị Quyết số: 169/NQ-CPXem và tải về tại đây: NQ cua CP ve cong tac nguoi VN o nuoc ngoai.pdf
 
​Danh Bạ điện thoại bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoàiXem và tải về tại đây: Danh bạ điện thoại bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài.pdf
 
​ Mẫu đơn xin bảo hộ công dânXem và tải về tại đây:1.Mẫu đơn xin bảo hộ công dân.pdf2. Mẫu đơn xin bảo hộ công dân.docx
 
​Nghị Định 113 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giamXem và tải về tại đây: Nghị định 113.pdf
 
​ Nghị định 112 năm 2021 quy định chi tiết 1 số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồngXem và tải về tại đây: Nghị định 112 năm 2021.pdf
 
​I. NGUYÊN TẮC ĐƯA THI HÀI, HÀI CỐT, TRO CỐT VỀ VIỆT NAM (Điều 2 Thông tư 01/2011/TT-BNG ngày 20/6/2011 của Bộ Ngoại giao)1. Việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam phải phù hợp với nguyện vọng của thân nhân người chết, truyền thống của dân tộc và phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam được quy định tại Điều 4 Thông tư này cấp Giấy phép.2. Việc vận chuyển thi hài, hài cốt, ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Nghị định về nghi lễ đối ngoạiVăn bản pháp quyTinNguyễn Thành NhânNghị định về nghi lễ đối ngoại/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/1/2022 10:00 AMNoĐã ban hành

​Nghị định về nghi lễ đối ngoại số 18/2022/NĐ-CP ngày 18/02/2022

Xem và tải về tại đây: NĐ 18-CP ve nghi le doi ngoai.pdf

Nghị định quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt NamVăn bản pháp quyTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênNghị định quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
2/9/2022 4:00 PMYesĐã ban hành

​Nghị định quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam

Xem và tải về tại đây: NGhị định 152 ngay năm 2020 của Chính phủ về tuyể, quản lý người Việt Nam.pdf

Quy định về Thẩm quyền tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt NamHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênQuy định về Thẩm quyền tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021 và thay thế Nghị định số 11/2016/NĐ-CP, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP, Nghị định số 75/2014/NĐ-CP.
2/9/2022 4:00 PMYesĐã ban hành

Để triển khai thực hiện Nghị định 152, Bộ Ngoại giao đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công thực hiện nhiệm vụ của tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài trên toàn quốc, cụ thể như sau:

1. Giao cho Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn (SDDC) là đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công thực hiện nhiệm vụ của Tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài trên địa bàn 28 Tỉnh, Thành phố khu vực phía Bắc: Thành phố Hà Nội, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Hòa Bình, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Thành phố Hải phòng, Hưng Yên, Nam định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ an, Hà Tĩnh.

2. Giao cho Trung tâm Phục vụ Đối ngoại Đà Nẵng (SCEDFA) là đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công thực hiện nhiệm vụ của Tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài trên địa bàn 15 Tỉnh, Thành phố khu vực miền Trung và Tây Nguyên: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Ninh Thuận.

3. Giao cho Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Cơ quan nước ngoài (FOSCO) có thẩm quyền tuyển, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài trên địa bàn 20 Tỉnh, Thành phố phía Nam: Bình Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu.

Theo đó, các đơn vị nêu trên có thẩm quyền tuyển, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài theo Nghị định 152/2020/NĐ-CP ngày 30/12/2020 của Chính phủ. Riêng Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn (SDDC) được Bộ Ngoại giao giao trách nhiệm quản lý, giám sát, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đối với các Tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài trên toàn quốc./.

                            Thảo Uyên – Phòng LSHTQT

Điều kiện nhập cảnh cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng thân nhân về nướcHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênĐiều kiện nhập cảnh cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng thân nhân về nước/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 18/01/2022, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn số 450/VPCP-QHQT về ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đồng ý chủ trương tạo thuận lợi về thủ tục nhập cảnh đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng thân nhân về nước, có hiệu lực từ ngày 19/01/2022. Công văn nêu rõ:
2/9/2022 3:00 PMYesĐã ban hành

1. Đối tượng người nước ngoài nhập cảnh là người nước ngoài được cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; riêng đối với người nước ngoài vào du lịch, trước mắt, tiếp tục thực hiện theo Chương trình thí điểm đón khách du lịch quốc tế theo hướng dẫn của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.

2. Thẩm quyền, thủ tục xét duyệt nhập cảnh

- Đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng thân nhân mang giấy tờ nhập cảnh hợp lệ (thẻ thường trú, thẻ tạm trú, thị thực, giấy miễn thị thực còn giá trị) được nhập cảnh Việt Nam theo quy định tại Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định của Chính phủ số 82/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2015, mà không phải làm lại thủ tục kiểm tra nhân sự, cấp thị thực/giấy miễn thị thực, không cần xin phê duyệt chủ trương nhập cảnh của bộ, ngành, địa phương.

- Đối với người nước ngoài chưa có thị thực: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục xem xét phê duyệt tạo điều kiện thuận lợi cho các trường hợp nhập cảnh để làm việc, dự hội nghị, hội thảo, học tập, nhân đạo... trên địa bàn tỉnh; các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Trung ương chủ động quyết định việc mời, đón và chịu trách nhiệm quản lý người nước ngoài làm việc với cơ quan mình.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Công an rà soát các trường hợp cấm nhập cảnh mới được bổ sung thời gian vừa qua, thông báo cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có hình thức hủy các loại giấy tờ nhập cảnh Việt Nam đã được cấp; phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan ban hành hướng dẫn thủ tục nhập cảnh để triển khai thống nhất trên toàn quốc, phù hợp với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu, hướng dẫn y tế của Việt Nam.

 

              Thảo Uyên – Phòng LSHTQT


Nghị Quyết Ban hành Chương trình hành động của Chính Phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021-2026Văn bản pháp quyTinNghị Quyết Ban hành Chương trình hành động của Chính Phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021-2026/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
1/13/2022 9:00 AMYesĐã ban hành

Nghị Quyết Ban hành Chương trình hành động của Chính Phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021-2026

Nghị Quyết số: 169/NQ-CP

Xem và tải về tại đây: NQ cua CP ve cong tac nguoi VN o nuoc ngoai.pdf

Danh Bạ điện thoại bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoàiHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênDanh Bạ điện thoại bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/29/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

​Danh Bạ điện thoại bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài

Xem và tải về tại đây: Danh bạ điện thoại bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài.pdf

 Mẫu đơn xin bảo hộ công dânHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo Uyên Mẫu đơn xin bảo hộ công dân/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/29/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

​ Mẫu đơn xin bảo hộ công dân

Xem và tải về tại đây:

1.Mẫu đơn xin bảo hộ công dân.pdf

2. Mẫu đơn xin bảo hộ công dân.docx

Nghị Định 113 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giamVăn bản pháp quyTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênNghị Định 113 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/23/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

Nghị Định 113 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam
Xem và tải về tại đây: Nghị định 113.pdf
 Nghị định 112 năm 2021 quy định chi tiết 1 số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồngVăn bản pháp quyTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo Uyên Nghị định 112 năm 2021 quy định chi tiết 1 số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/23/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

​ Nghị định 112 năm 2021 quy định chi tiết 1 số điều và biện pháp thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Xem và tải về tại đây: Nghị định 112 năm 2021.pdf

QUY TRÌNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CHẾT Ở NƯỚC NGOÀI, ĐEM VỀ ĐỊA PHƯƠNG CHÔN CẤT, MAI TÁNGHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênQUY TRÌNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI CHẾT Ở NƯỚC NGOÀI, ĐEM VỀ ĐỊA PHƯƠNG CHÔN CẤT, MAI TÁNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2021 3:00 PMYesĐã ban hành

I. NGUYÊN TẮC ĐƯA THI HÀI, HÀI CỐT, TRO CỐT VỀ VIỆT NAM (Điều 2 Thông tư 01/2011/TT-BNG ngày 20/6/2011 của Bộ Ngoại giao)

1. Việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam phải phù hợp với nguyện vọng của thân nhân người chết, truyền thống của dân tộc và phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam được quy định tại Điều 4 Thông tư này cấp Giấy phép.

2. Việc vận chuyển thi hài, hài cốt, tro cốt qua biên giới phải tuân thủ các quy định pháp luật về hải quan, kiểm dịch y tế của Việt Nam và của nước ngoài có liên quan.

3. Các chi phí liên quan tới việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam do người đề nghị cấp Giấy phép hoặc thân nhân người chết chi trả.

* Quy định về thi hài, hài cốt, tro cốt được phép đưa về Việt Nam (Điều 3 Thông tư 01/2011/TT-BNG ngày 20/6/2011 của Bộ Ngoại giao)

1. Trừ trường hợp nêu tại phần 3 bên dưới, thi hài, hài cốt, tro cốt có thể đưa về Việt Nam, nếu người chết là:

a. Công dân Việt Nam có đăng ký thường trú tại Việt Nam;

b. Người Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thân nhân (cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, chồng, vợ, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ruột của người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại) thường trú tại Việt Nam;

c. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

2. Việc đưa về Việt Nam thi hài, hài cốt, tro cốt của những người thuộc diện chưa được phép nhập cảnh vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, được xem xét giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể.

3. Không đưa về Việt Nam thi hài của người chết do mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21/11/2007 (bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê-bô-la (Ebola); Lát-sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh.

II. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép (Điều 4 Thông tư 01/2011/TT-BNG ngày 20/6/2011 của Bộ Ngoại giao)

Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép là Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là Cơ quan đại diện) nơi có người chết hoặc Cơ quan đại diện kiêm nhiệm nước đó hoặc Cơ quan đại diện nơi thuận tiện nhất, nếu ở nước có người chết không có Cơ quan đại diện.

2. Người đề nghị cấp Giấy phép (Điều 5 Thông tư 01/2011/TT-BNG ngày 20/6/2011 của Bộ Ngoại giao)

Cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức có thể đề nghị cấp Giấy phép nếu thuộc các trường hợp sau:

1. Thân nhân của người chết;

2. Người được thân nhân của người chết ủy quyền bằng văn bản;

3. Cơ quan/đơn vị chủ quản của người chết; hoặc bạn bè, người quen của người chết, nếu người chết không có thân nhân hoặc thân nhân không phản đối việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về nước.

III. THỦ TỤC CẤP GIẤY PHÉP NHẬP CẢNH THI HÀI, HÀI CỐT, TRO CỐT VỀ VIỆT NAM (Điều 6 Thông tư 01/2011/TT-BNG ngày 20/6/2011 của Bộ Ngoại giao)

1. Hồ sơ gồm:

a. 01 đơn đề nghị đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về nước theo mẫu số 01/ NG- LS ban hành kèm theo Thông tư này;

b. Giấy tờ chứng minh người đề nghị thuộc diện nêu tại Điều 5 Thông tư này:

 - 01 bản chụp hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh của người đề nghị;

- 01 bản chụp giấy tờ chứng minh quan hệ thân nhân với người chết;

- 01 bản chụp sổ hộ khẩu của người đề nghị trong trường hợp người chết thuộc diện nêu tại điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư này;

- 01 bản gốc văn bản ủy quyền trong trường hợp người đề nghị thuộc diện nêu tại khoản 2 Điều 5 Thông tư này;

- 01 bản gốc văn bản đề nghị trong trường hợp người đề nghị là cơ quan, đơn vị chủ quản của người chết nêu tại khoản 3 Điều 5 Thông tư này;

c. Giấy tờ chứng minh người chết thuộc diện nêu tại Điều 3 Thông tư này:

- Bản gốc hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh của người chết (nếu có);

- 01 bản chụp Giấy phép thường trú tại Việt Nam của người chết trong trường hợp người chết thuộc diện nêu tại điểm c khoản 1 Điều 3 Thông tư này;

- 01 bản chụp giấy chứng tử do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Cơ quan đại diện cấp;

- 01 bản chụp giấy chứng nhận vệ sinh, kiểm dịch y tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp (đối với thi hài); giấy chứng nhận khai quật và giấy chứng nhận vệ sinh, kiểm dịch y tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp (đối với hài cốt); giấy chứng nhận hỏa thiêu thi hài (đối với tro cốt);

- 01 bản chụp Đơn xin phép mang thi hài, hài cốt, tro cốt của người thân về chôn cất, bảo quản tại địa phương theo mẫu số 02/NG-LS có xác nhận đồng ý của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của Việt Nam cấp hoặc cơ quan quản lý nghĩa trang, nếu người chết thuộc diện nêu tại điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư này.

2. Nơi tiếp nhận hồ sơ

Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nước ngoài (có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện)

IV. BIỂU MẪU HỒ SƠ

- Đơn đề nghị đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về nước theo mẫu số 01/NG-LS.

- Đơn xin phép mang thi hài, hài cốt, tro cốt của người thân về chôn cất, bảo quản tại địa phương theo mẫu số 02/NG-LS.

               

                                                                                                 Thảo Uyên – Phòng LSHTQT


THÔNG TƯ QUY ĐỊNH THỦ TỤC CẤP GIẤY PHÉP NHẬP CẢNH  THI HÀI, HÀI CỐT, TRO CỐT VỀ VIỆT NAMVăn bản pháp quyTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênTHÔNG TƯ QUY ĐỊNH THỦ TỤC CẤP GIẤY PHÉP NHẬP CẢNH  THI HÀI, HÀI CỐT, TRO CỐT VỀ VIỆT NAM/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2021 3:00 PMYesĐã ban hành

BỘ NGOẠI GIAO
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 01/2011/TT-BNGHà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 2011

THÔNG TƯ

QUY ĐỊNH THỦ TỤC CẤP GIẤY PHÉP NHẬP CẢNH

THI HÀI, HÀI CỐT, TRO CỐT VỀ VIỆT NAM

 

Căn cứ Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 18/6/2009;

Căn cứ Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21/11/2007;

Căn cứ Nghị định số 15/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao;

Căn cứ Nghị định số 103/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm và kiểm dịch y tế biên giới;

Thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 10/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Ngoại giao;

Bộ Ngoại giao quy định thủ tục cấp Giấy phép nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định thủ tục cấp Giấy phép nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt (sau đây gọi là Giấy phép) về Việt Nam bằng đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt.

2. Việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt của liệt sĩ, quân tình nguyện Việt Nam về nước từ các nước có chung đường biên giới với Việt Nam do Bộ Quốc phòng thực hiện không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này.

Điều 2. Nguyên tắc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam

1. Việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam phải phù hợp với nguyện vọng của thân nhân người chết, truyền thống của dân tộc và phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam được quy định tại Điều 4 Thông tư này cấp Giấy phép.

2. Việc vận chuyển thi hài, hài cốt, tro cốt qua biên giới phải tuân thủ các quy định pháp luật về hải quan, kiểm dịch y tế của Việt Nam và của nước ngoài có liên quan.

3. Các chi phí liên quan tới việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam do người đề nghị cấp Giấy phép hoặc thân nhân người chết chi trả.

Điều 3. Thi hài, hài cốt, tro cốt được phép đưa về Việt Nam

1. Trừ trường hợp nêu tại khoản 3 Điều này, thi hài, hài cốt, tro cốt có thể đưa về Việt Nam, nếu người chết là:

a. Công dân Việt Nam có đăng ký thường trú tại Việt Nam;

b. Người Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thân nhân (cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, chồng, vợ, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ruột của người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại) thường trú tại Việt Nam;

c. Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.

2. Việc đưa về Việt Nam thi hài, hài cốt, tro cốt của những người thuộc diện chưa được phép nhập cảnh vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, được xem xét giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể.

3. Không đưa về Việt Nam thi hài của người chết do mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm ngày 21/11/2007 (bệnh cúm A-H5N1; bệnh dịch hạch; bệnh đậu mùa; bệnh sốt xuất huyết do vi rút Ê-bô-la (Ebola); Lát-sa (Lassa) hoặc Mác-bớc (Marburg); bệnh sốt Tây sông Nin (Nile); bệnh sốt vàng; bệnh tả; bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng do vi rút và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mới phát sinh chưa rõ tác nhân gây bệnh).

Điều 4. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép

Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép là Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi chung là Cơ quan đại diện) nơi có người chết hoặc Cơ quan đại diện kiêm nhiệm nước đó hoặc Cơ quan đại diện nơi thuận tiện nhất, nếu ở nước có người chết không có Cơ quan đại diện.

Điều 5. Người đề nghị cấp Giấy phép

Cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức có thể đề nghị cấp Giấy phép nếu thuộc các trường hợp sau:

1. Thân nhân của người chết;

2. Người được thân nhân của người chết ủy quyền bằng văn bản;

3. Cơ quan/đơn vị chủ quản của người chết; hoặc bạn bè, người quen của người chết, nếu người chết không có thân nhân hoặc thân nhân không phản đối việc đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về nước.

Điều 6. Thủ tục cấp Giấy phép

1. Người đề nghị cấp Giấy phép nộp 01 bộ hồ sơ gồm:

a. 01 đơn đề nghị đưa thi hài, hài cốt, tro cốt về nước theo mẫu số 01/NG-LS ban hành kèm theo Thông tư này;

b. Giấy tờ chứng minh người đề nghị thuộc diện nêu tại Điều 5 Thông tư này:

- 01 bản chụp hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh của người đề nghị;

- 01 bản chụp giấy tờ chứng minh quan hệ thân nhân với người chết;

- 01 bản chụp sổ hộ khẩu của người đề nghị trong trường hợp người chết thuộc diện nêu tại điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư này;

- 01 bản gốc văn bản ủy quyền trong trường hợp người đề nghị thuộc diện nêu tại khoản 2 Điều 5 Thông tư này;

- 01 bản gốc văn bản đề nghị trong trường hợp người đề nghị là cơ quan, đơn vị chủ quản của người chết nêu tại khoản 3 Điều 5 Thông tư này;

c. Giấy tờ chứng minh người chết thuộc diện nêu tại Điều 3 Thông tư này:

- Bản gốc hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh của người chết (nếu có);

- 01 bản chụp Giấy phép thường trú tại Việt Nam của người chết trong trường hợp người chết thuộc diện nêu tại điểm c khoản 1 Điều 3 Thông tư này;

- 01 bản chụp giấy chứng tử do cơ quan có thẩm quyền của người nước ngoài hoặc Cơ quan đại diện cấp;

- 01 bản chụp giấy chứng nhận vệ sinh, kiểm dịch y tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp (đối với thi hài); giấy chứng nhận khai quật và giấy chứng nhận vệ sinh, kiểm dịch y tế do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp (đối với hài cốt); giấy chứng nhận hỏa thiêu thi hài (đối với tro cốt);

- 01 bản chụp Đơn xin phép mang thi hài, hài cốt, tro cốt của người thân về chôn cất, bảo quản tại địa phương theo mẫu số 02/NG-LS có xác nhận đồng ý của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của Việt Nam cấp hoặc cơ quan quản lý nghĩa trang, nếu người chết thuộc diện nêu tại điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư này.

2. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép có thể nộp trực tiếp tại Cơ quan đại diện hoặc gửi qua đường bưu điện.

3. Việc giải quyết của Cơ quan đại diện:

3.1. Đối với trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này, sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Thông tư này, Cơ quan đại diện tiến hành các việc sau:

- Cấp Giấy phép theo mẫu số 03/NG-LS ban hành kèm theo Thông tư này, đóng dấu hủy vào hộ chiếu Việt Nam của người chết (nếu có) và trả kết quả cho người đề nghị cấp Giấy phép trong 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

- Thông báo việc cấp Giấy phép cho Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao, Hải quan cửa khẩu, Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh cửa khẩu nơi nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt.

- Thông báo hủy giá trị sử dụng hộ chiếu của người chết là công dân Việt Nam cho Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an.

- Ghi vào Sổ cấp phép nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt theo mẫu số 04/NG-LS ban hành kèm theo Thông tư này.

3.2. Đối với trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 3 Thông tư này, Cơ quan đại diện gửi điện ghi rõ các chi tiết nhân thân của người chết về Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao trong 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao có công văn trao đổi với các cơ quan liên quan trong 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được điện của Cơ quan đại diện và có điện trả lời cho Cơ quan đại diện trong 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ý kiến phản hồi của các cơ quan liên quan.

Trong 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo đồng ý của Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện cấp Giấy phép và trả lời kết quả cho người đề nghị.

Điều 7. Lưu trữ hồ sơ

1. Hồ sơ xin cấp Giấy phép nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt về Việt Nam bao gồm các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư này.

2. Cơ quan đại diện phải bảo quản chặt chẽ, thực hiện lưu trữ hồ sơ theo thời hạn sau:

- 03 năm đối với hồ sơ xin cấp Giấy phép nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt;

- Không hạn định đối với Sổ cấp phép nhập cảnh thi hài, hài cốt, tro cốt.

Điều 8. Khiếu nại, tố cáo

1. Cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong việc cấp Giấy phép;

2. Các khiếu nại, tố cáo nêu tại khoản 1 Điều này được giải quyết theo các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Điều 9. Tổ chức thực hiện

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, bãi bỏ các mẫu số 05/NG-LS "Đơn xin đưa thi hài, di hài về nước", mẫu số 14/NG-LS "Giấy phép nhập cảnh thi hài, di hài", mẫu số 15/NG-LS "Sổ cấp phép nhập cảnh thi hài, di hài" ban hành kèm theo Quyết định số 05/2002/QĐ-BNG ngày 30/7/2002 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

2. Cục trưởng Cục Lãnh sự, Thủ trưởng các Cơ quan đại diện chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các Cơ quan đại diện phản ánh kịp thời về Bộ Ngoại giao để được hướng dẫn giải quyết./.

 

 

Nơi nhận:

- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chủ tịch nước;

- Văn phòng Chính phủ;

- VP TƯ Đảng và các Ban của Đảng;

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ;

- Các cơ quan TƯ của các tổ chức chính trị - xã hội;

- Công báo, Website Chính phủ;

- Cục kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp);

- Vụ LPQT (để kiểm tra);

- Lưu VT, LS.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG


Nguyễn Thanh Sơn

 

Thông tư Hướng dẫn việc cấp, gia hạn, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm đề nghị phía nước ngoài cấp thị thựcVăn bản pháp quyTinNguyễn Thành NhânThông tư Hướng dẫn việc cấp, gia hạn, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm đề nghị phía nước ngoài cấp thị thực/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2021 12:00 PMYesĐã ban hành

​Thông tư Hướng dẫn việc cấp, gia hạn, hủy giá trị sử dụng hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm đề nghị phía nước ngoài cấp thị thực

Xem và tải về tại đây: Thông tư 04.pdf

 THỦ TỤC CẤP MỚI HỘ CHIẾU NGOẠI GIAO, HỘ CHIẾU CÔNG VỤHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo Uyên THỦ TỤC CẤP MỚI HỘ CHIẾU NGOẠI GIAO, HỘ CHIẾU CÔNG VỤ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2021 12:00 PMYesĐã ban hành

THỦ TỤC CẤP MỚI HỘ CHIẾU NGOẠI GIAO, HỘ CHIẾU CÔNG VỤ

(Theo Hướng dẫn tại Thông tư số 04/2020/TT-BNG ngày 25/9/2020 của Bộ Ngoại giao)  

I. THÀNH PHẦN HỒ SƠ

1. 01 bản chính Quyết định cử đi công tác nước ngoài: Quyết định cần ghi rõ và chính xác số quyết định, ngày tháng năm cấp quyết định; tên họ, chức vụ; là công chức nhà nước có đầy đủ loại, bậc, mã ngạch (hoặc nhiệm kỳ bầu cử), hệ số lương; nước đến; ngày đi ngày về; kinh phí chuyến đi (do ai chịu trách nhiệm).

Quyết định phải có đầy đủ nội dung theo mẫu 02/2020/NG-XNC và phải được người có thẩm quyền hoặc được ủy quyền ký trực tiếp, đóng dấu cơ quan. Quyết định có từ hai trang trở lên phải đánh số thứ tự và đóng dấu giáp lai giữa các trang. Đối với văn bản có hai trang trong một tờ thì trang đầu cần được đóng dấu treo hoặc đóng dấu giáp lai. Trường hợp sửa đổi, bổ sung thì phải được người có thẩm quyền ký trực tiếp và đóng dấu của cơ quan vào điểm sửa đổi, bổ sung. Trường hợp sửa đổi, bổ sung từ hai nội dung trở lên thì phải ra văn bản mới.

2. 01 bản chụp thư mời (nếu có).

3. 01 bản chính Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ: Tờ khai phải được điền đầy đủ các nội dung theo mẫu 01/2020/NG-XNC do người đề nghị ký trực tiếp và có xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó đang công tác, làm việc và đóng dấu giáp lai ảnh.

4. 02 ảnh giống nhau, cỡ 4x6 cm, chụp trên nền màu trắng, mắt nhìn thẳng, đầu để trần, không đeo kính màu, mặc thường phục, chụp không quá 01 năm, trong đó 01 ảnh dán vào Tờ khai và 01 ảnh đính kèm.

5. Công văn yêu cầu cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ (Công văn của đơn vị yêu cầu cấp hộ chiếu).

6. 01 bản chụp Giấy Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ Căn cước công dân hoặc Giấy Chứng minh của các lực lượng vũ trang (đối với lực lượng vũ trang) và xuất trình bản chính để đối chiếu.

7. Hộ chiếu ngoại giao hoặc hộ chiếu công vụ cấp lần gần nhất. Trong trường hợp mất hộ chiếu thì phải kèm 01 bản chính văn bản thông báo việc mất hộ chiếu theo mẫu 05/2020/NG-XNC.

8. Giấy giới thiệu của cơ quan nơi công tác, 01 bản chụp Giấy Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ Căn cước công dân hoặc Giấy Chứng minh của các lực lượng vũ trang và xuất trình bản chính để đối chiếu (đối với người đến liên hệ làm hộ chiếu).

* Lưu ý: Đối với trường hợp đề nghị cấp hộ chiếu có gắn chíp điện tử lần đầu, cơ quan tiếp nhận hồ sơ (Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh) tiến hành chụp ảnh, thu thập vân tay của người đề nghị theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao.

Số lượng hồ sơ: một (01) bộ.

     II. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN

          Nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh

- Địa chỉ: số 6 Alexandre De Rhodes, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

- Thời gian nhận hồ sơ và trả kết quả: từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ các ngày lễ, Tết).

     III. THỜI HẠN GIẢI QUYẾT

          Không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

    

     

 


THỦ TỤC GIA HẠN HỘ CHIẾU NGOẠI GIAO, HỘ CHIẾU CÔNG VỤHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênTHỦ TỤC GIA HẠN HỘ CHIẾU NGOẠI GIAO, HỘ CHIẾU CÔNG VỤ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2021 12:00 PMYesĐã ban hành

THỦ TỤC GIA HẠN HỘ CHIẾU NGOẠI GIAO, HỘ CHIẾU CÔNG VỤ

(Theo Hướng dẫn tại Thông tư số 04/2020/TT-BNG ngày 25/9/2020 của Bộ Ngoại giao)

I. THÀNH PHẦN HỒ SƠ

1. 01 bản chính quyết định cử đi công tác nước ngoài: Quyết định cần ghi rõ và chính xác số quyết định, ngày tháng năm cấp quyết định; tên họ, chức vụ; là công chức nhà nước có đầy đủ loại, bậc, mã ngạch (hoặc nhiệm kỳ bầu cử), hệ số lương; nước đến; ngày đi ngày về; kinh phí chuyến đi (do ai chịu trách nhiệm).

Quyết định phải có đầy đủ nội dung theo mẫu 02/2020/NG-XNC và phải được người có thẩm quyền hoặc được ủy quyền ký trực tiếp, đóng dấu cơ quan. Quyết định có từ hai trang trở lên phải đánh số thứ tự và đóng dấu giáp lai giữa các trang. Đối với văn bản có hai trang trong một tờ thì trang đầu cần được đóng dấu treo hoặc đóng dấu giáp lai. Trường hợp sửa đổi, bổ sung thì phải được người có thẩm quyền ký trực tiếp và đóng dấu của cơ quan vào điểm sửa đổi, bổ sung. Trường hợp sửa đổi, bổ sung từ hai nội dung trở lên thì phải ra văn bản mới.

2. Hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ còn giá trị sử dụng dưới 12 tháng.

3. Giấy giới thiệu của cơ quan nơi công tác, 01 bản chụp Giấy Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ Căn cước công dân hoặc Giấy Chứng minh của các lực lượng vũ trang và xuất trình bản chính để đối chiếu (đối với người đến liên hệ làm hộ chiếu).

          Số lượng hồ sơ: một (01) bộ.

     II. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN

          Nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh

- Địa chỉ: số 6 Alexandre De Rhodes, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

- Thời gian nhận hồ sơ và trả kết quả: từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ các ngày lễ, Tết).

     III. THỜI HẠN GIẢI QUYẾT

          Không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

    


THỦ TỤC CẤP CÔNG HÀM ĐỀ NGHỊ CẤP THỊ THỰCHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênTHỦ TỤC CẤP CÔNG HÀM ĐỀ NGHỊ CẤP THỊ THỰC/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/20/2021 12:00 PMYesĐã ban hành

THỦ TỤC CẤP CÔNG HÀM ĐỀ NGHỊ CẤP THỊ THỰC

(Theo Hướng dẫn tại Thông tư số 04/2020/TT-BNG ngày 25/9/2020 của Bộ Ngoại giao)    

I. THÀNH PHẦN HỒ SƠ

1. 01 bản chính quyết định cử đi công tác nước ngoài: Quyết định cần ghi rõ và chính xác số quyết định, ngày tháng năm cấp quyết định; tên họ, chức vụ; là công chức nhà nước có đầy đủ loại, bậc, mã ngạch (hoặc nhiệm kỳ bầu cử), hệ số lương; nước đến; ngày đi ngày về; kinh phí chuyến đi (do ai chịu trách nhiệm).

Quyết định phải có đầy đủ nội dung theo mẫu 02/2020/NG-XNC và phải được người có thẩm quyền hoặc được ủy quyền ký trực tiếp, đóng dấu cơ quan. Quyết định có từ hai trang trở lên phải đánh số thứ tự và đóng dấu giáp lai giữa các trang. Đối với văn bản có hai trang trong một tờ thì trang đầu cần được đóng dấu treo hoặc đóng dấu giáp lai. Trường hợp sửa đổi, bổ sung thì phải được người có thẩm quyền ký trực tiếp và đóng dấu của cơ quan vào điểm sửa đổi, bổ sung. Trường hợp sửa đổi, bổ sung từ hai nội dung trở lên thì phải ra văn bản mới.

2. 01 bản chính Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ, công hàm xin thị thực: Tờ khai phải được điền đầy đủ các nội dung theo mẫu 01/2020/NG-XNC do người đề nghị ký trực tiếp và có xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi người đó đang công tác, làm việc và đóng dấu giáp lai ảnh.

3. Hộ chiếu còn giá trị trên 06 tháng kể từ ngày dự kiến xuất cảnh.

4. 01 bản chụp thư mời (nếu có).

5. Giấy giới thiệu của cơ quan nơi công tác, 01 bản chụp Giấy Chứng minh nhân dân hoặc Thẻ Căn cước công dân hoặc Giấy Chứng minh của các lực lượng vũ trang và xuất trình bản chính để đối chiếu (đối với người đến liên hệ làm hộ chiếu).

Số lượng hồ sơ: một (01) bộ.

     II. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN

          Nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh

- Địa chỉ: số 6 Alexandre De Rhodes, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

- Thời gian nhận hồ sơ và trả kết quả: từ thứ Hai đến thứ Sáu (trừ các ngày lễ, Tết).

     III. THỜI HẠN GIẢI QUYẾT

          Không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.


Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốcTin Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênToàn văn phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc/PublishingImages/2021-04/89.jpg
12/20/2021 11:00 AMYesĐã ban hành

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc

TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: "Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc."


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo hội nghị. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Sáng 14/12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: "Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc."

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu,

Thưa toàn thể các đồng chí,

Hôm nay, tôi rất vui mừng được đến dự Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trước hết, tôi xin được thay mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và với tình cảm cá nhân, gửi tới các đồng chí cùng toàn thể anh chị em cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác đối ngoại ở trong và ngoài nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.

Hội nghị hôm nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng (cũng có đồng chí gọi đây là Hội nghị có ý nghĩa lịch sử) vì đây là Hội nghị đối ngoại toàn quốc đầu tiên do Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo tổ chức để bàn về công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và của cả hệ thống chính trị.

Hội nghị diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức phấn đấu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đất nước ta vừa có nhiều thuận lợi, thời cơ lớn, vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn so với dự báo.

Đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp, tác động nhiều mặt, gây ra những tổn thất nặng nề đối với nhiều quốc gia, dân tộc, trong đó có nước ta. Dưới sự lãnh đạo kịp thời, đúng đắn của Đảng, sự phối hợp đồng bộ, triển khai quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của đồng bào, chiến sỹ cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, chúng ta đã cơ bản kiểm soát có hiệu quả đại dịch, chủ động đưa đất nước vào trạng thái bình thường mới, "thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19" để phát triển kinh tế-xã hội.

Sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc với yêu cầu rất cao trong thời kỳ mới đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, kết hợp với ngoại lực, quyết tâm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Kể từ sau thành công tốt đẹp của Đại hội XIII của Đảng, Quốc hội khóa XV đã tổ chức 2 kỳ họp đầu tiên; Chính phủ nhiệm kỳ khóa XIII, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và các ngành Nội chính, Văn hóa, Xây dựng Đảng cũng đã lần lượt tổ chức hội nghị toàn quốc để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Tất cả các hội nghị đều được chuẩn bị rất công phu, nghiêm túc, bài bản và đã rất thành công, đúng với tinh thần "Tiền hô hậu ủng," "Nhất hô bá ứng," "Trên dưới đồng lòng," và "Dọc ngang thông suốt."

Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc hôm nay, cũng với tinh thần đó, chúng ta sẽ cùng nhau nhìn lại quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng về công tác đối ngoại, quán triệt tinh thần và nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và bàn các biện pháp để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm trong những năm tới. Đây cũng là dịp để các cấp, các ngành, các địa phương và đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn nữa về tình hình, vị thế của đất nước ta trong khu vực và trên thế giới; vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác đối ngoại trong tổng thể chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo ra khí thế mới, quyết tâm mới và xung lực mới cho toàn hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, từng tổ chức và cá nhân trong hoạt động đối ngoại.

Thưa các đồng chí,

Như chúng ta đều biết, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển của mình cũng đều phải xử lý hai vấn đề cơ bản là đối nội và đối ngoại. Hai vấn đề này có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau như hai cái cánh của một con chim, tạo thế và lực cho nhau, gắn kết và đan xen ngày càng chặt chẽ với nhau, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội, mà còn là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc.

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc luôn luôn là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của chúng ta.

Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ giang sơn, độc lập, chủ quyền của đất nước, ông cha ta đã luôn luôn chú trọng hoạt động đối ngoại, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạt động đối ngoại Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân mà thay cường bạo!"; "Dập tắt muôn đời lửa chiến tranh; Mở nền muôn thủa thái bình!" ("Bình Ngô đại cáo" - Nguyễn Trãi). Dùng đối ngoại để phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh hoặc để sớm kết thúc chiến tranh trong vị thế có lợi nhất; đối ngoại phải luôn luôn phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp đối nội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những tư tưởng, triết lý vượt thời đại của cha ông ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị.

Những truyền thống và bản sắc tốt đẹp ấy càng được bồi đắp, phát huy và tỏa sáng trong thời đại Hồ Chí Minh, đã phát triển lên thành nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc. Là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Những nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đều bắt nguồn từ triết lý và truyền thống ngoại giao của ông cha ta, và chính Người đã phát triển những giá trị đó lên tầm cao mới; kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc, truyền thống ngoại giao Việt Nam với tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới. Trong đó, luôn luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột; gắn với thực tiễn của thế giới, để đưa Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của thời đại.

Người chủ trương: Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tự lực, tự cường phải gắn với đoàn kết quốc tế; phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại; chăm lo, xây dựng mối quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng, bạn bè truyền thống và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Trong hoạt động đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quán triệt quan điểm chỉ đạo là "phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ" để biết mình, biết người, luôn làm chủ tình thế; hiểu rõ vị trí chiến lược của Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn. Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn; luôn chủ trương tôn trọng và giữ thể diện cho nước lớn; luôn luôn phải "biết mình, biết người," "biết thời, biết thế" để "cương nhu kết hợp" vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh, và cũng không muốn chiến tranh xẩy ra với các nước khác. Chính tư tưởng nhân văn, nhân đạo của Người, đề cao chính nghĩa, đạo lý vì hòa bình và cuộc sống độc lập tự do hạnh phúc của nhân dân tất cả các dân tộc là biểu hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn nhất giữa văn hóa của dân tộc với văn hóa của nhân loại. Với tư tưởng nhân văn ấy, trong hoạt động ngoại giao của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương phải phát huy vai trò của luật pháp quốc tế, vận dụng những giá trị của văn hóa và của ngoại giao truyền thống Việt Nam, cũng như các tư tưởng phổ biến, tiến bộ của nhân loại, chú ý tìm ra những điểm tương đồng, nêu cao tính nhân văn, nhân nghĩa và đạo lý, pháp lý trong quan hệ quốc tế để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới...

Nhờ đó, cùng với các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa..., mặt trận ngoại giao luôn luôn đóng vai trò trọng yếu trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, góp phần tạo nên những thắng lợi hết sức to lớn, làm rạng rỡ lịch sử của Dân tộc. Đặc biệt là trong việc "vừa đánh, vừa đàm," đàm phán, bảo vệ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, lúc mới thành lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945; đàm phán, ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954, góp phần giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; đàm phán, ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973, tạo tiền đề để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối. Và từ đó, đối ngoại đã trở thành một mặt trận tạo lối, mở đường, đi đầu từng bước phá thế bị bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, hội nhập, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy truyền thống đối ngoại vẻ vang của Dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho nền ngoại giao Thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hòan thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực thi chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng mới đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế" (Văn kiện Đại hội XIII của Đảng - Tr. 161-162).

Có thể khái quát lại: Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của Thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam," "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển" ("Thân gầy guộc, lá mong manh, mà sao nên lũy, nên thành tre ơi!"), thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là: Mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, "tùy cơ ứng biến," "lạt mềm buộc chặt"!

Thưa các đồng chí,

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta về công tác đối ngoại, trong 35 năm qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ khóa XII gần đây, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Nổi bật là (4 vấn đề sau đây):

Một là, từ phá thế bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục diện đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, thuận lợi cho công cuộc đổi mới. Cho đến nay, chúng ta đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế đối với công cuộc đổi mới của nhân dân ta. Tính ra, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có "quan hệ đặc biệt," 17 nước "đối tác chiến lược" và 13 nước "đối tác toàn diện". Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO v.v...

Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng ta đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng. Hoạt động đối ngoại của Chính phủ trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội được đẩy mạnh, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị và đan xen lợi ích với các đối tác. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức hữu nghị của nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước, quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.

Hai là, chúng ta đã tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế-xã hội. Từ một nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung, bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta đã trở thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa liên kết kinh tế sâu rộng; đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 3 FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn rất cao, và mạng lưới liên kết kinh tế sâu rộng với hầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới. Nếu cách đây 30 năm, chúng ta mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có quan hệ kinh tế-thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Chúng ta đã thu hút được hơn 400 tỷ đôla Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó đã giải ngân được khoảng 250 tỷ USD v.v… Công tác người Việt Nam ở nước ngoài cũng đã huy động được nguồn lực to lớn của kiều bào ta để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, hiện nay, chúng ta đã chủ động đóng góp có trách nhiệm vào sự nỗ lực chung của quốc tế trong phòng, chống dịch COVID-19, đồng thời tranh thủ được sự hỗ trợ của quốc tế về vaccine, thiết bị y tế và thuốc điều trị, đóng góp quan trọng vào việc phòng, chống dịch COVID-19 và phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội.

Ba là, đối ngoại đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải quyết, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để bảo vệ chủ quyền, giữ vững đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời góp phần vào việc củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực. Đối với những vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ, chúng ta luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Bốn là, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy tinh thần trách nhiệm vào việc giữ vững hòa bình, hợp tác phát triển và tiến bộ trên thế giới. Chúng ta đã tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn và hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng với tư cách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN, chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEM, Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN…; đã cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở châu Phi. Trong nhiều vấn đề quốc tế quan trọng, tiếng nói, sáng kiến và cách thức giải quyết có lý, có tình trên tinh thần bình đẳng, hòa hiếu và nhân văn của nước ta đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhờ đó vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Những cố gắng, kết quả và thành tích của chúng ta nói trên đã góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta sau 35 năm đổi mới như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, làm cho "đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay."

[Phối hợp ba trụ cột để thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội Đảng XIII]

Có được những kết quả, thành tích đó là do có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, bình tĩnh, tỉnh táo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự điều hành chủ động, linh hoạt của Nhà nước; sự đồng tình, đoàn kết, ủng hộ của toàn thể nhân dân; sự vào cuộc và hoạt động tích cực của cả hệ thống chính trị, tất cả các ngành, các cấp, trong đó Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các cơ quan, đơn vị trực tiếp làm công tác đối ngoại trong cả nước là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng. Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh, biểu dương và cảm ơn những đóng góp to lớn, rất có ý nghĩa của toàn thể anh chị em đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.

Tuy nhiên, công tác đối ngoại của chúng ta thời gian qua cũng còn một số hạn chế; có việc chưa làm được hoặc làm chưa tốt như Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Cụ thể là, hoạt động đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có lúc, có việc chưa thật chủ động và hiệu quả chưa cao. Chúng ta còn thiếu những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để hạn chế tối đa các tác động tiêu cực trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế; nhận thức và chỉ đạo thực tiễn có lúc chưa theo kịp những chuyển biến mau lẹ, phức tạp của tình hình; sự phối hợp, kết hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương còn thiếu chặt chẽ; công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo tình hình chưa thật bài bản, kết quả chưa được như mong muốn.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo hội nghị. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Từ tất cả những kết quả và hạn chế nêu trên và nói chung là từ toàn bộ hoạt động phong phú, sôi động trên mặt trận đối ngoại thời gian qua, chúng ta có thể tiếp tục khẳng định, kế thừa và phát huy những bài học thiết thực được rút ra từ nhiều nhiệm kỳ vừa qua. Đó là 5 bài học:

1. Bài học về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các dân tộc vẫn luôn luôn là giữ vững hòa bình, mở rộng hợp tác vì sự phát triển. Chúng ta đã xác định đúng đắn và rõ ràng vị trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như một của chúng ta luôn luôn phù hợp với xu thế lớn đó của thời đại. Lợi ích quốc gia - dân tộc của chúng ta lúc này vẫn là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển. Điều đó hòan toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

2. Bài học về sự kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sách lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tùy theo từng vấn đề, từng thời điểm và tùy theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến ứng vạn biến," "thêm bạn bớt thù," "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai." Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế.

3. Bài học về xây dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ thể đã góp phần tạo ra sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Thể chế, chính sách quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn; cơ chế phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường...; giữa trung ương và địa phương,... đã có nhiều cải tiến, ngày càng đồng bộ hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy sự năng động, sáng tạo, hiệu lực hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa," giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi nhất để phát triển đất nước.

4. Bài học về công tác xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ mà lâu nay chúng ta vẫn thường nói là "cái gốc của mọi công việc". Các thế hệ cán bộ đối ngoại đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong những giai đoạn lịch sử khác nhau của đất nước, trong đó có đội ngũ cán bộ của Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương với chức năng tham mưu và trực tiếp triển khai công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước. "Mang chuông đi đánh xứ người" là một công việc rất khó khăn, vất vả, đòi hỏi những phẩm chất đặc biệt của người làm công tác đối ngoại. Những nỗ lực trên mặt trận đối ngoại thời gian qua đã tạo ra lớp lớp thế hệ cán bộ đối ngoại ngày càng hội đủ tố chất vừa hồng vừa chuyên, bước đầu thể hiện được bản lĩnh, đạo đức, cốt cách của ngoại giao Hồ Chí Minh.

5. Cuối cùng, bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cùng các cơ quan tham mưu đã có sự nhạy bén trong nhận định và nắm bắt tình hình, quyết đoán trong việc đưa ra các chính sách, biện pháp cụ thể. Nhiều chủ trương, giải pháp xử lý những vấn đề phức tạp, những tính toán lựa chọn đúng thời điểm tiến hành những hoạt động đối ngoại lớn, trong đó có các việc đón và thực hiện các chuyến thăm cấp cao, đã tác động mạnh mẽ có sức thuyết phục, tạo được sự đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, và được dư luận quốc tế đồng tình, ủng hộ."

"Thưa các đồng chí,

 Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp, đề ra Chiến lược xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới, trong đó có Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu đến năm 2025 - kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 - kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đồng thời, Đại hội cũng đề ra chủ trương, đường lối đối ngoại trong thời kỳ mới với những nội dung cốt lõi sau đây:

- Về tư tưởng chỉ đạo: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Ý chí tự lực, tự cường và nội lực là quyết định, cơ bản, lâu dài; sự ủng hộ, giúp đỡ và nguồn lực từ bên ngoài là vô cùng quan trọng.

- Về nguyên tắc đối ngoại: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

- Về phương hướng đối ngoại: Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đối ngoại của các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị, cộng đồng các doanh nghiệp. Đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, thực chất, thiết thực; huy động và kết hợp có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài với nguồn lực trong nước để phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Không ngừng đổi mới, sáng tạo trên cơ sở vận dụng nhuần nhuyễn bài học "dĩ bất biến, ứng vạn biến," kiên định về nguyên tắc, chiến lược, linh hoạt về phương pháp, sách lược.

- Nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại: Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Các nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, trong đó giữ vững hòa bình, ổn định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phục vụ phát triển đất nước là nhiệm vụ trung tâm; nâng cao vị thế và uy tín đất nước là nhiệm vụ quan trọng.

Chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong bối cảnh có nhiều thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. "Trong những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp..." (SĐD-Tr.30-31).


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu chỉ đạo hội nghị. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)

Để góp phần xứng đáng cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng cũng rất đỗi vẻ vang trong tình hình, bối cảnh nêu trên, trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Hội nghị hôm nay, tôi xin gợi mở, nhấn mạnh thêm 6 vấn đề sau đây:

Một là, chúng ta cần tiếp tục thường xuyên theo dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình để kịp thời có giải pháp thích hợp trong công tác đối ngoại. Những diễn biến chính trị nhanh chóng, phức tạp trên thế giới thời gian qua có rất nhiều vấn đề vượt ra ngoài dự báo thông thường. Nếu chúng ta không nắm bắt đúng tình hình thì không theo kịp sự phát triển của thực tiễn. Vấn đề là chúng ta phải nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, có tinh thần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi khuôn khổ những tư duy cũ, những lĩnh vực quen thuộc để có suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tới tầm khu vực và quốc tế.

Chúng ta cần xây dựng vị thế và tâm thế mới của Việt Nam trong ứng xử và xử lý mối quan hệ với các nước, song phương cũng như đa phương. Thế và lực của nước ta trên các tiêu chí quan trọng như kinh tế, dân số, quốc phòng và đối ngoại đã khác nhiều sau 35 năm đổi mới. Đặc biệt, các vấn đề thuộc lợi ích cốt lõi, mang tầm chiến lược của Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải thể hiện tiếng nói mạnh mẽ hơn và lập trường đối ngoại tích cực hơn, trước hết ở trong khu vực. Đồng thời, cũng phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm kiếm các đối tác mới, hướng đi mới. Đương nhiên, đổi mới phải trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, chắc chắn, thận trọng, kiên định mục tiêu và chân thành, khiêm tốn.

Hai là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, vì lợi ích quốc gia-dân tộc; vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vận dụng đúng đắn quan điểm về "đối tượng," "đối tác"; tăng cường hợp tác, tiếp tục tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước, ngăn ngừa xung đột, tránh đối đầu, bị cô lập, phụ thuộc. Trong đó, mục tiêu bao trùm là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chính đáng của ta phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong việc bảo đảm môi trường hòa bình thì một trong những yêu cầu then chốt là phải luôn kiên trì, bình tĩnh, sáng suốt, khôn khéo, xử lý đúng đắn các mối quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề chủ quyền, lãnh thổ. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành ngoại giao là những người đi đầu. Trước những diễn biến của tình hình thế giới như đã nói ở trên, việc thực hiện nhiệm vụ bao trùm này sẽ có nhiều thách thức trong thời gian tới.

Để tranh thủ và tận dụng tối đa cơ hội, kiểm soát và hóa giải các thách thức, ứng phó tốt với những chuyển biến bên ngoài, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ là: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng," theo đó phải luôn luôn đề cao việc xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết và đồng thuận trong nước. Điểm đồng chung nhất, cao nhất ở đây là phải kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; tất cả mọi người đều phải vì nước, vì dân. Có như thế, trong triển khai công tác đối ngoại mới có thể "kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại," thực hiện phương châm "dĩ bất biến ứng vạn biến"; giữ "trái tim nóng, cái đầu lạnh" và "kiên quyết, kiên trì" để xử lý các thách thức đối ngoại, tranh thủ điểm đồng về lợi ích để thúc đẩy hợp tác và phát triển trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Ba là, phát huy tối đa mọi yếu tố thuận lợi của đất nước để chủ động, tích cực tham gia đóng góp, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương, thực hiện Chỉ thị số 25 của Ban Bí thư về nâng tầm công tác đối ngoại đa phương, coi đây là một định hướng chiến lược quan trọng, trong đó có việc xây dựng Chiến lược tổng thể về đối ngoại đến năm 2030. Công việc trọng tâm của thời gian tới là triển khai và phát huy các kết quả quan trọng của các diễn đàn đa phương mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là phối hợp với các đối tác thúc đẩy việc thực hiện các sáng kiến đã được thông qua của Việt Nam. Cần thể hiện vai trò nòng cốt trong quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc an ninh khu vực. Tiếp tục tham gia tích cực trong khuôn khổ hoạt động của Liên hợp quốc, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Tổng kết việc thực hiện và hoàn thành trọng trách Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho thời gian tới trên các diễn đàn đa phương khác trong và ngoài khuôn khổ của Liên hợp quốc.

Bốn là, cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả các hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác kinh tế, văn hóa và hợp tác trên lĩnh vực chính trị, an ninh-quốc phòng với các nước; tiếp tục đưa các mối quan hệ với các đối tác mà ta đã có khuôn khổ quan hệ, trước hết là các nước láng giềng và các nước lớn, đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả; ưu tiên duy trì ổn định và giữ đà quan hệ, tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, đồng thời xử lý các khác biệt và vấn đề nảy sinh trên tinh thần hợp tác, hữu nghị, kiểm soát bất đồng, dựa trên luật pháp quốc tế và thông lệ khu vực.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nhất là Nghị quyết 06 của Ban Chấp hành Trung ương về việc "Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới" và "Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030." Thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế, trọng tâm là các cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới, Cộng đồng Kinh tế ASEAN, APEC, CPTPP, RCEP, EVFTA, EVIPA...

Nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển bền vững của đất nước. Ưu tiên tìm kiếm và mở rộng thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và lao động Việt Nam, thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, nhất là FDI hướng vào các lĩnh vực ưu tiên của đất nước. Tích cực cùng các nước thúc đẩy đàm phán, ký kết, phê chuẩn và thực hiện các thoả thuận FTA đa phương; nghiên cứu khả năng tham gia các sáng kiến đa phương trong khu vực về kết nối kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng; tiến hành đàm phán các FTA song phương thế hệ mới với các nước, nhất là với các đối tác thương mại lớn. Triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa công tác người Việt Nam ở nước ngoài theo đúng tinh thần người Việt Nam ở nước ngoài là máu thịt, là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Các cơ quan có trách nhiệm cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, cơ chế, luật pháp, tạo điều kiện thuận lợi để bà con ta tham gia ngày càng tích cực, sâu rộng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc để yên tâm hòa hợp, sinh sống, làm việc, học tập, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc văn hóa của dân tộc ta.

Năm là, hết sức coi trọng, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược, tập trung đánh giá kỹ các xu hướng vận động trong chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, các nước láng giềng, khu vực, các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội trên thế giới và khu vực, nhất là trước tác động như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số và sự nguy hại của dịch bệnh và biến đổi khí hậu.

Trong trung và dài hạn, phải dự báo trước các kịch bản về những biến đổi trong trật tự thế giới, khu vực và chuẩn bị sẵn các phương án để ứng phó. Phải nhận thức rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình; tỉnh táo xác định giá trị và vị trí chiến lược của đất nước trong tình hình mới để hoạch định chiến lược, chính sách cho phù hợp. Hòa bình, hợp tác và phát triển của thế giới và khu vực là xu hướng chủ đạo của thời đại. Một quốc gia không thể tùy hứng đưa ra những quyết định và hành động đơn phương mà không cân nhắc những tổn thất gây ra cho các quốc gia khác và cho chính mình.

Có thể nói, công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược là vô cùng quan trọng để giữ được sự chủ động trong một thế giới đầy biến động phức tạp. Trung ương Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư luôn đánh giá cao các báo cáo chiến lược của các cơ quan tham mưu và các cơ quan chức năng, chuyên môn của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, yêu cầu đối với công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược trong thời gian tới là rất cao, rất nhiều thách thức; tôi mong các đồng chí quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác này. Tôi vẫn thường nói vui rằng "chỉ sợ không biết, chứ đã biết thì không sợ!"

Sáu là, để hoàn thành được những nhiệm vụ nêu trên, phải đặc biệt chú trọng công tác xây dựng tổ chức, bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ.

Về tổ chức bộ máy, hệ thống các cơ quan đối ngoại, bao gồm Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các cơ quan, đơn vị có chức năng làm đối ngoại thuộc tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn hệ thống chính trị cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đồng thời, tiếp tục rà soát, đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, sắp xếp, kiện toàn, nâng cao trình độ, năng lực tổ chức bộ máy của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các bộ, ngành, địa phương, nhất là các cơ quan, đơn vị có chức năng làm công tác đối ngoại, từ các cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài đến các đơn vị trong nước, hướng tới tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về vấn đề này.

Nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và địa phương, nhất là giữa Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các ban, bộ, ngành, địa phương có liên quan trong triển khai công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của đất nước. Trong thời kỳ hội nhập toàn diện, xu hướng toàn cầu hóa và liên kết, hợp tác là tất yếu thì sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, và giữa các ban, bộ, ngành, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đối ngoại ở Trung ương cũng như ở địa phương, nhất là các địa phương biên giới có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện thành công nhiệm vụ chung cũng như nhiệm vụ của mỗi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.


Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị. (Ảnh: Trí Dũng/TTXVN)


Về công tác cán bộ, tôi xin nhắc lại bài học Đảng ta đã rút ra, đó là "cán bộ là cái gốc của mọi công việc". Chúng ta đang ở trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Công tác cán bộ cũng phải đáp ứng yêu cầu này. Trong suốt chiều dài của cách mạng, Đảng ta luôn rất coi trọng công tác cán bộ của ngành ngoại giao nói riêng và đối ngoại nói chung. Trong những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất của cách mạng, chúng ta luôn luôn có những nhà ngoại giao, nhà hoạt động đối ngoại xuất sắc, những con người đã trở thành tấm gương của mọi thế hệ về lòng yêu nước, về tinh thần tự học hỏi, về bản lĩnh chính trị, về phong cách và nghệ thuật ngoại giao và đối ngoại. Có thể nói, đó là những nhà ngoại giao, những nhà hoạt động đối ngoại, những chính khách được bạn bè quốc tế ghi nhận, nể trọng.

Thế hệ cán bộ đối ngoại hôm nay được thừa hưởng những truyền thống, kinh nghiệm vô cùng quý báu mà các thế hệ trước để lại; được tạo điều kiện thuận lợi về đào tạo và công tác. Mặt bằng chung về học vấn và trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác đối ngoại là rất cao. Tôi được biết, trong Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương hiện nay có nhiều đồng chí có năng lực, được đồng nghiệp và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ mới, chúng ta cần tiếp tục coi trọng hơn nữa công tác đào tạo cán bộ ngoại giao, cán bộ đối ngoại cả về trình độ, năng lực lẫn bản lĩnh chính trị, đặc biệt là bản lĩnh chính trị. Các đồng chí phải không ngừng rèn luyện vững vàng về chính trị, luôn tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với lợi ích của dân tộc, tỉnh táo trước sự tác động, lôi kéo của các thế lực thù địch, chủ động tích cực phòng ngừa không để "tự diễn biến," "tự chuyển hóa," vướng vào tham nhũng, tiêu cực.

Càng hội nhập sâu với thế giới, chúng ta càng cần có các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng; đủ trình độ, uy tín, phong cách để sánh vai với các nước, bạn bè quốc tế; toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một nhà ngoại giao, một nhà hoạt động đối ngoại giỏi trước hết phải là một nhà chính trị giỏi, luôn lấy lợi ích của quốc gia-dân tộc, của chế độ làm kim chỉ nam trong hành động; đồng thời phải có phong cách ứng xử văn hóa, bởi lẽ đối ngoại chính là văn hóa, là đại diện cho văn hóa của dân tộc trong giao lưu với các dân tộc khác. Các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn luôn ghi nhớ rằng phía sau mình là Đảng, là đất nước, là nhân dân. Phải tự tin, vững vàng, kiên định và khôn khéo, mưu lược.

Thưa các đồng chí,

 Thế giới đang chuyển biến mau lẹ. Đất nước ta dù còn khó khăn, nhưng triển vọng tương lai rất xán lạn. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang đồng lòng, quyết tâm cao nhất thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Là người Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, ai cũng mong muốn nước ta hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu, như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tôi tin rằng Hội nghị của chúng ta hôm nay sẽ đánh một dấu mốc mới và tạo nên bước chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa cho công tác đối ngoại. Tôi được biết, ngay sau Hội nghị hôm nay, ngành goại giao sẽ tổ chức hội nghị ngoại giao để quán triệt tinh thần, kết luận tại Hội nghị này để thảo luận phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp cụ thể trong lĩnh vực ngoại giao, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đại hội XIII. Đây là cách làm tốt cần tiếp tục phát huy.

Nhân dịp năm mới 2022 và Xuân Nhâm Dần sắp đến, một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và chúc các nhà ngoại giao, các đồng chí đại biểu, cùng toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại cả nước luôn luôn dồi dào sức khoẻ và thu được nhiều thắng lợi mới trong nhiệm vụ đầy vinh quang và trọng trách của mình.

Tôi cũng nhờ các đồng chí trưởng cơ quan đại diện ngoại giao chuyển tới các cán bộ, công chức, viên chức và cộng đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài lời thăm hỏi chân tình, lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Chúc quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân thế giới ngày càng phát triển và bền chặt.

Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao "Cây tre Việt Nam"!

Xin trân trọng cảm ơn!

(Theo nguồn TTXVN/Vietnam)




Giải cứu 22 công dân Việt Nam bị dụ sang Campuchia lao động, bị ngược đãi về nướcTin Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênGiải cứu 22 công dân Việt Nam bị dụ sang Campuchia lao động, bị ngược đãi về nước/PublishingImages/2021-04/92.jpg
12/20/2021 11:00 AMYesĐã ban hành

Sáng ngày (15/12/2021), tại Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài, lực lượng chức năng Việt Nam và Campuchia tiến hành bàn giao 22 công dân Việt Nam bị dụ sang Campuchia lao động, bị ngược đãi về nước.


Đo thân nhiệt, khử khuẩn và lấy thông tin y tế khi trao trả công dân

Theo tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia, thời gian qua Đại sứ quán nhận được nhiều thông tin kêu cứu của 22 công dân Việt Nam đang làm việc trong các sòng bài tại tỉnh Svay Rieng do người Trung Quốc làm chủ, phần lớn họ bị ép buộc làm nhiều giờ trong ngày, nếu không chịu làm việc họ sẽ bị bán cho chủ người Trung Quốc khác hoặc nếu họ tìm cách bỏ trốn sẽ bị đánh đập, ngược đãi; nếu họ muốn rời khỏi nơi làm việc hiện tại thì phải trả tiền chuộc cho chủ người Trung Quốc từ 5.000-7.000 USD.

Sau khi tập hợp thông tin, ngày 09/12/2021, Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia phối hợp với Công an tỉnh Svay Rieng đã tiến hành giải cứu 22 công dân Việt Nam (trong đó có 03 công dân dưới 18 tuổi), là nạn nhân bị dụ dỗ sang làm việc tại các sòng bài trực tuyến tại khu Kim Sa, thành phố Bavet, tỉnh Svay Rieng (nhiều người trong số này nhập cảnh trái phép). Sau đó, Công an Campuchia bố trí cho họ tạm trú trong phòng trọ tại khu vực thành phố Bavet, gần Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, cung cấp thức ăn, đồ uống và có công an bảo vệ. 


Công an tỉnh Svay Riêng bàn giao 22 công dân Việt Nam cho phía Việt Nam

Ngày 15/12/2021, 22 công dân Việt Nam bị dụ sang Campuchia lao động, bị ngược đãi được lực lượng chức năng Campuchia trao trả cho phía Việt Nam và về nước qua đường Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài. Những công dân này gồm (04 nữ, 18 nam), có hộ khẩu thường trú tại các tỉnh: Tây Ninh, Hà Nam, Hà Tỉnh, Bình Dương, Hải Dương, Bác Ninh, Nghệ An, Cao Bằng.

Sau khi tiếp nhận, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài phối hợp với các Sở: Y tế, Ngoại vụ, Giao thông Vận tải lập biên bản bàn giao, xét nghiệm Covid-19 và đưa đi cách ly tại Trung tâm huấn luyện K71, sau hoàn thành cách ly sẽ thông báo về địa phương để quản lý, theo dõi công dân theo quy định.

                               Thảo Uyên – Phòng LSHTQT



HỘI NGHỊ ĐỐI NGOẠI TOÀN QUỐC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNGTin Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênHỘI NGHỊ ĐỐI NGOẠI TOÀN QUỐC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG/PublishingImages/2021-04/86.jpg
Sáng 14/12/2021, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
12/20/2021 10:00 AMYesĐã ban hành

​Đây là lần đầu tiên kể từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như từ khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta tổ chức một hội nghị chuyên sâu về công tác đối ngoại với quy mô toàn quốc, nhằm đánh giá toàn diện tình hình thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới. Đặc biệt, Hội nghị nhằm quán triệt sâu sắc toàn diện đường lối, chủ trương, quan điểm đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng ta trong quá trình phát triển và đổi mới của đất nước, tạo nhận thức thống nhất trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, sự đồng thuận của người Việt Nam ở nước ngoài và tiếp tục tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.


Đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo Hội nghị

Đồng chí Nguyễn Thành Tâm - Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Tây Ninh. Cùng tham dự có các đồng chí Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ; lãnh đạo HĐND tỉnh, UBND tỉnh; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh; đại diện thường trực các huyện uỷ, thị uỷ, thành uỷ, đảng ủy trực thuộc Tỉnh uỷ; lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh, Văn phòng Đoàn ĐBQH – HĐND tỉnh, Sở Ngoại vụ và các cơ quan thông tấn báo chí trên địa bàn tỉnh.

 Phát biểu tại Hội nghị, Phạm Bình Minh ­- Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nhấn mạnh, trong 5 năm qua, tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng với nhiều diễn biến phức tạp, khó lườn. Đặc biệt, trong hai năm qua, đại dịch COVID-19 tác động nghiêm trọng và để lại hậu quả nặng nề trên mọi mặt của đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia…Bối cảnh đó tạo ra những thách thức và cơ hội cho các nước, trong đó có nước ta. Nhưng Việt Nam vẫn tận dụng được thời cơ, hóa giải được thách thức, tiếp tục tạo những kết quả toàn diện, với nhiều dấu ấn nổi bật trên nhiều lĩnh vực. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên với GDP gần 400 tỷ USD và gần 100 triệu dân. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Ổn định chính trị - xã hội được đảm bảo trên cơ sở củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quốc phòng - an ninh được giữ vững và tăng cường vững chắc. Đất nước hội nhập sâu rộng vào mọi mặt đời sống xã hội quốc tế, là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. 


Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ báo cáo tại hội nghị

 Trong đại dịch Covid-19, chúng ta đã triển khai quyết liệt, kịp thời, hiệu quả công tác ngoại giao y tế/vaccine trên cả kênh song phương và đa phương. Đến nay, Việt Nam đã nhận được trên 151 triệu liều vaccine, đạt 100% mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống dịch hiệu quả đi đôi với phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam cũng đã kịp thời viện trợ vật tư y tế và tài chính cho trên 50 quốc gia và tổ chức quốc tế, qua đó thể hiện rõ vai trò "thành viên có trách nhiệm" trong cộng đồng quốc tế.

Việt Nam đã đăng cai thành công Năm APEC 2017, Hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018, làm Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA năm 2020, tổ chức tốt Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần 2; trúng cử Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu cao kỷ lục và đảm nhiệm thành công trọng trách này.

Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 224 thị trường và đối tác. 71 nước đã công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam. Với mạng lưới 15 FTA đã ký, trong đó có các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, Việt Nam là một trong số ít nước tham gia hầu hết các liên kết kinh tế quan trọng.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ khẳng định: "Trong tổng thể các thành tựu của đất nước có sự đóng góp không nhỏ của đối ngoại và hội nhập quốc tế. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đặc biệt quan tâm, chủ động triển khai, đạt nhiều kết quả quan trọng, tích cực, toàn diện. Nhìn tổng thể, đối ngoại đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, lĩnh vực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và hệ thống chính trị, đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ: Phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa; chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới".

Bên cạnh những thành tựu đạt được, theo Phó Thủ tướng, đối ngoại vẫn còn những mặt hạn chế, như Đại hội XIII đánh giá: "Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế có mặt, có lúc chưa theo kịp diễn biến của tình hình, chưa lường hết những tác động bất lợi. Chưa khai thác tốt và phát huy hiệu quả các quan hệ lợi ích đan xen với các đối tác quan trọng. Sự phối hợp giữa các ngành, các địa phương trong công tác đối ngoại chưa chặt chẽ, thường xuyên". 


Các đồng chí lãnh đạo tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội

Từ những kết quả và hạn chế nêu trên, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhấn mạnh 05 bài học kinh nghiệm: về bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đối với mọi thắng lợi của công tác đối ngoại, phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên mặt trận đối ngoại. Nhất quán trong thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, "dĩ bất biến ứng vạn biến"; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Cùng với đó, chiến lược đối ngoại của Việt Nam đặt trong tổng thể đường lối phát triển của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; gắn kết hài hòa, chặt chẽ, có hiệu quả với đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đặt sự phát triển của đất nước vào dòng chảy của thời đại, từ đó xây dựng, triển khai các đường lối, chính sách phù hợp, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Đồng chí Nguyễn Thành Tâm - Bí thư Tỉnh uỷ chủ trì, tham dự có Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Phạm Hùng Thái cùng các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu tỉnh Tây Ninh.

 Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định nguyên tắc nền tảng và tư tưởng chỉ đạo của đối ngoại thời kỳ Đổi mới là: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng động quốc tế. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Ý thức tự lực, tự cường và nội lực là quyết định cơ bản, lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng.

Mục tiêu đối ngoại được xác định là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Phương hướng đối ngoại là: Chủ động, tích cực triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả các hoạt động đối ngoại bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, đối ngoại của các cấp, các ngành, của các địa phương.

Nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại là: Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển và bảo vệ đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.

Để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước và triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại Đại hội XIII đã đề ra, đối ngoại cần tiếp tục đổi mới tư duy và phương thức tổ chức hoạt động, tập trung vào các nhiệm vụ sau:

Một là, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện và thống nhất của Đảng, quản lý tập trung của Nhà nước đối với đối ngoại và hội nhập quốc tế. Quán triệt sâu sắc, toàn diện, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng bằng các chiến lược, kế hoạch, chương trình, đề án đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Hai là, củng cố tin cậy chính trị, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác quan trọng và các nước bạn bè truyền thống, trên tin thần bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Ba là, triển khai mạnh mẽ, hiệu quả, sáng tạo hơn nữa đối ngoại đa phương, chủ động, tích cực phát huy vai trò, đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật kinh tế - chính trị quốc tế; đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, các cơ chế hợp tác liên nghị viện quốc tế và khu vực (như AIPA, IPU), APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công, cũng như trong các vấn đề quốc tế có tầm quan trọng chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện của Việt Nam.

Bốn là, tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa các trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh để tạo thế chân kiềng vững chắc, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, huy động nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước.

Năm là, giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc ngoại giao Việt Nam kết hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khoa học, lý luận ngoại giao Việt Nam. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời thúc đẩy và nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, du lịch…, qua đó đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Sáu là, khơi dậy mạnh mẽ tin thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc, giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, lấy địa phương, doanh nghiệp và người dân làm trung tâm phục vụ, kết hợp hiệu quả nguồn lực bên ngoài với các nguồn lực trong nước, góp phần thực hiện thắng lợi các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Bảy là, nâng cao hiệu quả, đổi mới nội dung, phương thức của công tác ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, bảo hộ công dân, triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn công tác người Việt Nam ở nước ngoài để tạo sự gắn kết chặt chẽ, phát huy được tối đa các nguồn lực, sức mạnh tổng hợp cho phát triển đất nước.

Tám là, mở rộng, nâng cao hiệu quả và đưa các mối quan hệ đối ngoại Đảng đi vào chiều sâu, tạo nền tảng chính trị cho quan hệ giữa nước ta với các nước; tạo lập sự đồng thuận và hậu thuẫn chính trị các chính đảng và các lực lượng chính trị đối với sự nghiệp đổi mới.

Củng cố, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân, tạo nền tảng xã hội hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức nhân dân với vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội khác trong hoạt động đối ngoại.

Chín là, kiện toàn và nâng cao hiệu quả của các cơ chế phối hợp liên ngành trong lĩnh vực đối ngoại. Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cách chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

 Hội nghị đã nghe tham luận của các đồng chí lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Công thương, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam cùng các lãnh đạo thành phố Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Thành ủy Đà Nẵng…

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Công tác đối ngoại đang là động lực mạnh mẽ để phát triển quốc gia, dân tộc. Do đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các cơ quan, lực lượng đối ngoại phải phối hợp thống nhất, chặt chẽ để xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam với 3 trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đặc biệt, phải tạo nên sức mạnh tổng hợp trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân để đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Tại Sở Ngoại vụ, Ban Giám đốc đã triển khai, quán triệt đến tất cả cán bộ, công chức các phòng chuyên môn toàn văn bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là phương châm ngoại giao giai đoạn 2020-2025./.

Thảo Uyên-Phòng LSHTQT



Thông báo một số văn bản liên quan ngành ngoại giao hết hiệu lựcHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênThông báo một số văn bản liên quan ngành ngoại giao hết hiệu lực/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 24/11/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2021/QĐ-TTg về việc bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ. Theo nội dung quyết định này, có một số văn bản liên quan đến ngành ngoại giao sẽ hết hiệu lực. Cụ thể:
12/6/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

1. Liên quan đến công tác báo chí có yếu tố nước ngoài

Quyết định số 118-TTg ngày 15 tháng 3 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc mua tin kinh tế chuyên ngành của các hãng tin nước ngoài.

2. Liên quan đến công tác người việt Nam ở nước ngoài

Quyết định số 990/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ hỗ trợ, vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

3. Liên quan đến công tác hợp tác quốc tế

Quyết định số 36/2018/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định thủ tục ký kết, thực hiện thỏa thuận nhân danh Chính phủ và kiến nghị Chủ tịch nước quyết định ký kết thỏa thuận nhân danh Nhà nước không phải là Điều ước quốc tế.

Kể từ ngày 01/12/2021, các văn bản nêu trên hết hiệu lực./.

 Thảo Uyên – Phòng LSHTQT


DANH SÁCH TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI  TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNGHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênDANH SÁCH TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI  TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/6/2021 10:00 AMNoĐã ban hành

DANH SÁCH TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Xem và tải về tại đây: Hướng dẫn lãnh sự, Danh sách Tổng lãnh sự quán nước ngoài tại Đà Nẳng.pdf


DANH MỤC ĐẠI SỨ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘIHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênDANH MỤC ĐẠI SỨ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/24/2021 4:00 PMYesĐã ban hành

DANH MỤC ĐẠI SỨ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI

Xem và tải về: Hướng dẫn lãnh sự, DANH MỤC ĐẠI SỨ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI.pdf

DANH MỤC TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênDANH MỤC TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/24/2021 4:00 PMYesĐã ban hành

DANH MỤC TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Xem và tải về: Hướng dẫn lãnh sự, DANH MỤC TỔNG LÃNH SỰ QUÁN NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.pdf

Danh mục Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoàiHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênDanh mục Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/8/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

​Danh mục Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài

Danh mục Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài.pdf

Danh mục Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoàiHướng dẫn thủ tục Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênDanh mục Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
11/8/2021 3:00 PMNoĐã ban hành

​Danh mục Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài

Danh mục Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài.pdf

Cập nhật giấy chứng nhận tiêm chủng, xác nhận khỏi Covid-19 của các quốc gia, vùng lãnh thổTin Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênCập nhật giấy chứng nhận tiêm chủng, xác nhận khỏi Covid-19 của các quốc gia, vùng lãnh thổ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Vừa qua, một số Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài đã giới thiệu, bổ sung một số mẫu Giấy chứng nhận tiêm chủng, Giấy xác nhận khỏi bệnh Covid-19. Sở Ngoại vụ đã tổng hợp và cập nhật các Mẫu giấy mới. Cụ thể:
10/1/2021 11:00 AMNoĐã ban hành

- Văn bản số 3285/LS-PL ngày 24/8/2021 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao.

- Văn bản số 3682/LS-PL ngày 21/9/2021 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao.

* Liên quan đến việc người nhập cảnh vào Việt Nam có Giấy chứng nhận tiêm chủng của Nhật Bản, Bộ Ngoại giao đề nghị các cơ quan chức năng của Việt Nam tạo điều kiện và cho phép người nhập cảnh vào Việt Nam có Giấy chứng nhận tiêm chủng Nhật được phép nộp bản sao cho các cơ quan chức năng của Việt Nam, do bản gốc chỉ được phía Nhật Bản cấp cấp một lần duy nhất. Khi nộp bản sao, có thể yêu cầu xuất trình bản chính để đối chiếu.

3682 LS-PL-09282021081606.pdf

3285 LS-PL-08302021091240 (1).pdf

 

Thảo Uyên – Phòng LSHTQT


Công nhận giấy chứng nhận tiêm chủng, xác nhận khỏi Covid-19 của 50 quốc gia, vùng lãnh thổTin Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênCông nhận giấy chứng nhận tiêm chủng, xác nhận khỏi Covid-19 của 50 quốc gia, vùng lãnh thổ/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nhập cảnh, cách ly phù hợp với thực tế trong nước, theo quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Y tế ban hành hướng dẫn tạm thời về việc kiểm tra và công nhận giấy chứng nhận tiêm chủng và giấy xác nhận khỏi bệnh Covid-19 của người nước ngoài, trong đó công nhận mẫu giấy chứng nhận tiêm chủng và giấy xác nhận khỏi bệnh Covid-19 đã được giới thiệu chính thức qua đường ngoại giao của 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ này được thông tin đến các cơ quan có liên quan và cập nhật thường xuyên tại Cổng thông tin điện tử về công tác Lãnh sự của Sở Ngoại vụ.
9/7/2021 10:00 AMYesĐã ban hành

Những người đến từ các nước và vùng lãnh thổ chưa giới thiệu chính thức mẫu giấy chứng nhận tiêm chủng, giấy xác nhận khỏi bệnh Covid-19 cho Việt Nam có thể liên hệ với các cơ quan đại diện Việt Nam ở sở tại để hợp pháp hóa và xác nhận nội dung các giấy tờ nói trên.

Các Văn bản cập nhật Danh sách Giấy chứng nhận tiêm chủng và Giấy xác nhận khỏi bệnh Covid-19 của một số cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài: Văn bản số 2974/LS-PL ngày 06/8/2021, Văn bản số 3100/LS-PL ngày 13/8/2021, Văn bản số 3112/LS-PL ngày 14/8/2021, Văn bản số 3157/LS-PL ngày 17/8/, Văn bản số 3207/LS-PL ngày 19/8/2021 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao.

2974 LS-PL-08122021101707 (1).pdf

3100 LS-PL-08202021085207 (1).pdf

 3112.pdf

3157 LS-PL-08202021133014.pdf

3207 LS-PL-08232021134257.pdf

           Thảo Uyên – Phòng LSHTQT

 


Nghị định số 62/2021/NĐ-CP ngày 29/6/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Cư trúVăn bản pháp quyTinNghị định số 62/2021/NĐ-CP ngày 29/6/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Cư trú/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/1/2021 9:00 AMNoĐã ban hành

​Quy định chi tiết một số điều Luật Cư trú

Xem và tải về: NĐ 62 Quy định chi tiết một số điều Luật Cư trú.pdf

Tỉnh Tây Ninh bàn giao 02 trường hợp trẻ em công dân Campuchia  nhập cảnh trái phép cho chính quyền tỉnh Svay Riêng - Campuchia.Tin Lãnh sựTinĐinh thị Thùy VânTỉnh Tây Ninh bàn giao 02 trường hợp trẻ em công dân Campuchia  nhập cảnh trái phép cho chính quyền tỉnh Svay Riêng - Campuchia./PublishingImages/2021-04/1.jpg
Vào lúc 10 giờ 00 ngày 04/5/2021 tại Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài – Ba Vet, đại diện Sở Ngoại vụ tỉnh Tây Ninh đã phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh bàn giao 02 trường hợp trẻ em người Campuchia nhập cảnh trái phép cho chính quyền tỉnh Svay Riêng - Campuchia.
5/7/2021 10:00 AMYesĐã ban hành


Tiến hành bàn giao 02 trẻ em người Campuchia cho chính quyền tỉnh Svay Riêng

          Trước đó, ngày 19/4/2021 Công an phường 2, Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát hiện 02 bé ăn xin tại khu vực quán Hải Đảo, Tèo Phan trên đường Trưng Nữ Vương, Phường 2, Thành phố Tây Ninh và đưa về khu cách ly tập trung của trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh.

         Qua điều tra dịch tễ, được biết 02 bé cùng chú của mình từ Campuchia sang Việt Nam, nhưng người chú đã bị Công an Campuchia bắt giữ, hai bé chạy trốn sang Việt Nam, đến Bến xe Tây Ninh rồi bị bắt giữ đưa về Khu cách ly tập trung của Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Tây Ninh.

          Đến nay, sau khi đã hết thời hạn cách ly, Sở Ngoại vụ tỉnh Tây Ninh phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan chức năng của tỉnh Tây Ninh tiến hành bàn giao 02 trường hợp trên cho chính quyền tỉnh Svay Riêng của Campuchia. Đại diện cơ quan chức năng hai bên thực hiện thủ tục bàn giao được diễn ra nhanh, gọn và đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid -19 theo quy định./.

Đinh Thị Thùy Vân – Phòng Lãnh sự Hợp tác Quốc tế.


Tỉnh Tây Ninh bàn giao 04 công dân Hàn Quốc nhập cảnh trái phép về nướcTin Lãnh sựTinPhạm Nguyễn Hoàng Thảo UyênTỉnh Tây Ninh bàn giao 04 công dân Hàn Quốc nhập cảnh trái phép về nước/PublishingImages/2021-04/2.png
Ngày 30/4/2021, tại Cảng hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh Tây Ninh và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài – Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh đã bàn giao 04 người Hàn Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam cho Tổng Lãnh sự quán Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh để lên máy bay về nước.
5/7/2021 10:00 AMYesĐã ban hành


Từ phải qua người thứ nhất và thứ sáu đại diện Tổng Lãnh sự quán Hàn Quốc; người thứ hai, đến thứ năm là 04 người Hàn Quốc; người thứ bảy đến thứ chín đại diện Công an tỉnh và bìa bên trái đại diện Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh

 

          Trước đó, đầu tháng 3/2021 trong lúc Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Tây Ninh đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên Quốc lộ 22B, thuộc ấp Thuận Tây, xã Lợi Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh có 04 thanh niên đang đứng bên lề đường, với nhiều biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện 04 thanh niên trên là công dân Hàn Quốc tên là YANG DONG BIN, sinh ngày 05/02/1995; LEE HAN RYEOL, sinh ngày 12/01/1989; CHOI IN SUNG, sinh ngày 13/7/1982; KIM EUNG SEUNG, sinh ngày 10/5/1986, tất cả không có giấy tờ, hộ chiếu. Theo lời khai của 04 thanh niên trên, họ đang tạm trú tại Vương Quốc Campuchia trong khi đi chơi thì không biết mình đã đi sang lãnh thổ Việt Nam.

          Ngay sau đó, Tổ công tác đã tạm giữ 04 công dân Hàn Quốc và bàn giao cho Sở Y tế để đưa vào cách ly tại Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh. Ngày 15/4/2021, Đồn biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Mộc Bài - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 04 người Hàn Quốc về hành vi vi phạm hành chính "Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh" theo quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 17, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

          Qua làm việc và đề nghị với Tổng Lãnh sự quán Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh, 04 công dân trên đã được cấp Giấy thông hành và phía Tổng Lãnh sự quán đã phối hợp với Cảng hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh Tây Ninh và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh tiến hành bàn giao 04 công dân trên về nước theo quy định về lãnh sự, bảo hộ công dân./.

              (Thảo Uyên – Phòng LSHTQT)


TỈNH TÂY NINH TRAO TẶNG VẬT TƯ Y TẾ CHO 05 TỈNH THUỘC VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA VÀ HỘI KHMER-VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA HỖ TRỢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19Tin Lãnh sựBài viếtTrần Thị Khánh TâmTỈNH TÂY NINH TRAO TẶNG VẬT TƯ Y TẾ CHO 05 TỈNH THUỘC VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA VÀ HỘI KHMER-VIỆT NAM TẠI CAMPUCHIA HỖ TRỢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19/ThuVienAnh/35.jpg
Tỉnh Tây Ninh Trao Tặng Vật Tư Y Tế Cho 05 Tỉnh Thuộc Vương Quốc Campuchia và Hội Khmer- Việt Nam Tại Campuchia Hỗ Trợ Công Tác Phòng, Chống Covid-19.
4/13/2021 8:00 AMYesĐã ban hành

Thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo UBND tỉnh, vào ngày 06 và 07/4/2021 tại Cửa khẩu quốc tế Tân Nam, Xa Mát và Mộc Bài, Sở Ngoại vụ chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Sở Y tế trao tặng vật tư y tế cho 05 tỉnh thuộc Vương quốc Campuchia: Tboung Khmum, Prey Veng, Kampong Cham, Svay Rieng và Otdar MeanChey và Hội Khmer – Việt Nam tại Campuchia, gồm 204 thùng khẩu trang y tế (gồm 510.000 chiếc khẩu trang y tế) và 240 thùng (gồm 4.800 chai rửa tay sát khuẩn), tổng trị giá 600 triệu đồng cho 05 tỉnh bạn thuộc Vương quốc Campuchia và Hội Khmer – Việt Nam tại Campuchia. Trong đó, mỗi đơn vị được trao tặng: 34 thùng khẩu trang y tế (gồm 85.000 chiếc khẩu trang y tế) và 40 thùng (gồm 800 chai nước rửa tay sát khuẩn), trị giá là 100 triệu đồng.

Tham dự buổi trao tặng, về phía tỉnh Tây Ninh có Lãnh đạo Sở Ngoại vụ ; Lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Sở Y tế tỉnh Tây Ninh.

Về phía 05 tỉnh thuộc Vương quốc Campuchia có Lãnh đạo Văn phòng Hành chính và các lực lượng vũ trang của tỉnh.

Về phía Hội Khmer – Việt Nam tại Campuchia có ông Sim Chy, Chủ tịch Hội.


Trao quà tặng cho Hội Khmer – Việt Nam tại Campuchia




Trao quà tặng cho tỉnh Prey Veng




Trao quà tặng cho tỉnh Kampong Cham




Trao quà tặng cho tỉnh Svay Rieng




Trao tặng quà cho tỉnh Otdor Meanchey


Tại các buổi trao tặng, Lãnh đạo Sở Ngoại vụ khẳng định vật chất y tế trao tặng là tình cảm của Đảng bộ, Chính quyền, nhân dân tỉnh Tây Ninh gửi đến chính quyền và nhân dân Campuchia nhằm góp phần cùng các tỉnh bạn Vương quốc Campuchia và Hội Khmer – Việt Nam giúp đỡ người Campuchia gốc Việt phòng, chống dịch bệnh Covid-19 hiện nay, cùng chung tay đẩy lùi dịch Covid-19 trong thời gian sớm nhất, để cuộc sống người dân hai bên trở lại bình thường.

Đại diện các tỉnh thuộc Vương quốc Campuchia và Hội Khmer – Việt Nam tại Campuchia gửi lời cảm ơn tỉnh Tây Ninh và thông qua Đoàn đại biểu tỉnh Tây Ninh chuyển lời hỏi thăm sức khỏe đến Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh trong suốt thời gian qua đã luôn quan tâm, hỗ trợ giúp đỡ chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh bạn Campuchia và Hội Khmer- Việt Nam tại Campuchia. Đây là món quà hết sức ý nghĩa và thiết thực đối với địa phương trong giai đoạn lây nhiễm cộng động hết sức phức tạp như hiện nay, vì hiện tại khẩu trang y tế và nước rửa tay sát khuẩn tại Campuchia rất cần trong công tác phòng, chống sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng và mong rằng các tỉnh sẽ tiếp tục tăng cường trao đổi hợp tác bằng các hình thức phù hợp theo thực tế, cũng như chia sẽ hỗ trợ qua lại giữa các tỉnh thuộc Vương quốc Campuchia, Hội Khmer – Việt Nam và tỉnh Tây Ninh trong thời gian tới, cùng nhau thắng lợi trong công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19.

Buổi lễ tổ chức bàn giao vật tư y tế diễn ra và kết thúc trong không khí thắm tình hữu nghị, vui tươi, có ý nghĩa thiết thực, đúng nguyên tắc lễ tân đối ngoại và đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

Khánh Tâm - TP.LS&HTQT




1 - 30Next