Lễ tân ngoại giao
Thứ 3, Ngày 10/11/2020, 16:00
Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
10/11/2020 | Phạm Nguyễn Hoàng Thảo Uyên
Lào (tên chính thức: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào). Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào. Trước đây Lào còn có tên là Ai Lao, Lão Qua.

I/- Hành chính

Hệ thống hành chính bốn cấp gồm cấp trung ương và ba cấp địa phương. Cấp địa phương cao nhất là tỉnh có 17 đơn vị và thành phố Viêng Chăn. Cấp địa phương cấp hai là các quận, huyện, thị xã. Cấp địa phương thấp nhất là Bản (Lào không có đơn vị hành chính cấp xã).

Thủ đô: Viêng Chăn

Các tỉnh: Attapeu - Bokeo - Borikhamxay - Champasack - Huaphanh - Khammuane - Luangnamtha - Luangprabang - Oudomxay - Phongsaly - Saravane - Savannakhet - Viêng Chăn - Xayabury - Sekong - Xiengkhuang

Khoảng 60% dân cư là dân tộc Lào. Dân tộc Lào bắt nguồn từ người Thái di cư từ Trung Quốc xuống phía nam khoảng thiên niên kỷ 1 trước công nguyên. 8% dân cư thuộc các sắc tộc khác ở vùng đất thấp cùng với người Lào được gọi chung là Lào Lùm.

Các dân tộc sinh sống ở vùng cao là người H'Mông (Mèo), Dao (Yao hay Miền), Thái đen, Shan và một ít người gốc Tây Tạng-Miến Điện, sống tại các khu vực cô lập của Lào.

Năm 1968 quân tình nguyện Việt Nam sang tham chiến cùng quân Pathet Lào, chống lại chính phủ vương quốc Lào và quân đội Hoa Kỳ. Ngày 2/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước CHDCND Lào. Ngày này cũng được lấy làm ngày quốc khánh của CHDCND Lào.

Lào là thành viên Liên Hiệp Quốc từ ngày 14/2/1955. Những năm cuối thập niên 1980, Lào thực hiện chính sách nới lỏng kiểm soát kinh tế. Năm 1997 quốc gia này gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hiện nay quan hệ với Việt Nam vẫn là cơ bản trong chính sách đối ngoại của Lào.

II/- Địa lý

Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển. Lào giáp Trung Quốc ở phía Bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở phía Nam với đường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía Đông với đường biên giới dài 2069 km, giáp với Myanma ở phía Tây Bắc với đường biên giới dài 236 km; giáp với Thái Lan ở phía Tây với đường biên giới dài 1835 km.

Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817 m. Diện tích còn lại là bình nguyêncao nguyên. Sông Mê Kông chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông giáp với Việt Nam.

Khí hậu nhiệt đới của khu vực gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưamùa khô. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voibò tót khổng lồ.

III/- Chính trị

Chính đảng duy nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (ĐNDCM Lào). Người đứng đầu nhà nước là Chủ tịch nước được Quốc hội cử ra có nhiệm kỳ 5 năm.  Đường lối chính sách của chính phủ do Đảng lãnh đạo thông qua 9 ủy viên Bộ Chính trị và 49 ủy viên Trung ương đảng. Lào thông qua hiến pháp mới năm 1991. Trong năm sau đó đã diễn ra bầu cử Quốc hội với 85 đại biểu. Các thành viên quốc hội được bầu bằng bỏ phiếu kín. Cuộc bầu cử gần đây nhất diễn ra tháng 2 năm 2002 với 109 đại biểu.

IV/- Kinh tế

Có một số đồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê Kông hoặc các phụ lưu như đồng bằng Viêng Chăn, Champasack...45 % dân số sống ở vùng núi. Lào có 800.000 ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề nông.

Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm nghiệp, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện. Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn định.

Tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8%, năm 2008 đạt 7,9%. Thu nhập bình quân đầu năm 2007 đạt 678USD/người/năm, năm 2008 đạt 841USD/người/năm. Đến năm 2020, Lào phấn đấu đạt GDP bình quân đầu người tăng gấp 2-3 lần hiện nay, khoảng 1.200-1.500 USD/năm.

Kinh tế đối ngoại: đến năm 2007, Lào có quan hệ thương mại với 60 nước, ký Hiệp định thương mại với 19 nước, 39 nước cho Lào hưởng quy chế GSP. Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và gỗ.

Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 80% lực lượng lao động. Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng.

V/- Văn hóa

Nền văn hóa Lào chịu ảnh hưởng nặng của Phật giáo Thượng tọa bộ. Tôn giáo chính là Phật giáo Theravada. Có một số ít người theo đạo Kitôđạo Hồi.

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Lào. Người Lào vùng trung và cao nguyên nói tiếng của bộ lạc mình.

Âm nhạc của Lào ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như. Múa Lăm vông (Lam saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào trên thế giới gọi là mor lam sing.

Lễ hội ở Lào hay được gọi là Bun. Nghĩa đúng của Bun là phước. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương Lịch, Tết Nguyên Đán, Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và Tết H'mong (tháng 12).

 

1. Về ăn uống

Cây lương thực chủ yếu của Lào là lúa nếp và lúa tẻ. Bữa ăn của họ thường có đồ nướng (cá, thịt) và gỏi cùng những quả đắng, chua, chát như chuối xanh, me. Thức ăn được người Lào ưa thích là cá, ốc, ếch, tôm, tép và thịt các loại thú rừng nhưng loại thịt được xếp hàng thứ nhất là thịt trâu, thịt bò. Ớt là loại gia vị không thể thiếu trong bữa ăn. Pà-đẹc (mắm cá) được dùng nêm vào các món ăn. Món lạp được dùng trong các bữa cơm lễ hội và tiếp khách.

Trong bữa cơm, dù thức ăn nhiều hay ít thì khách đều phải ăn mỗi thứ một ít cho hài lòng gia chủ nhưng cũng phải để lại một ít cơm, xôi để tượng trưng cho sự no đủ, thừa thãi cơm gạo.

2. Về nhà ở

Nhà ở của người Lào thường là nhà sàn gỗ. Để dựng được một ngôi nhà sàn, người ta thường sử dụng sức mạnh tập thể của bản, mường và làm đúng qui trình với các lễ nghi qui định. Nhà sàn của người Lào thường quay về hướng Bắc, lưng tựa hướng Nam. Nhà có ba gian, tám cột. Khi đào và chôn cột phải đào hố, chôn cột phía Nam (xảu hẹc) trước, sau đó là phía Đông (xảu khoẳn).

Ngôi nhà thường được chia làm hai phần chính. Phía ngoài là nơi ăn uống, bếp núc. Phía trong là một dãy buồng riêng dùng để thờ cúng và nghỉ ngơi.

3. Về trang phục, trang sức

Từ lâu, nhân dân Lào đã tự túc được các loại vải, chăn. Khi chưa có thuốc nhuộm, người Lào dùng các loại quả, củ rừng để nhuộm vải. Các cô gái Lào thích mặc vải hoa, vải kẻ có màu đậm, tươi tắn như màu của rừng núi, hoa tươi...

Thanh niên Lào thường cắt tóc ngắn, mặc áo cổ tròn, tay ngắn, quần đùi, bên ngoài quấn chiếc phạ-xạ-rông (khăn dài) màu hoặc kẻ ô. Những ngày lễ hội quan trọng, họ mặc y phục dân tộc là chiếc áo sơ mi cổ tròn, khuy vải, cài về phía tay trái, quấn chiếc phạ-nhạo-nếp-tiêu màu sắc sặc sỡ và quàng chiếc phạ biềng (khăn) chéo qua ngực. Trong cuộc sống hàng ngày, người Lào thường dùng loại khăn gọi là phạ-phe. Đây là chiếc khăn vải kẻ ô màu trang nhã, thường dùng làm khăn tắm hay dùng che đầu, quàng cổ, gói quần áo buộc vào thắt lưng...

Với phụ nữ Lào, lúc còn nhỏ, họ có thể để tóc hoặc hớt tóc nhưng trên 10 tuổi thì phải bới tóc (chưa có chồng thì búi lệch, có chồng rồi thì búi thẳng), ngoài 50 tuổi, họ thường cắt tóc ngắn. Theo tập quán cổ truyền, phụ nữ Lào thường mặc váy có cạp, có gấu, không quá ngắn hoặc quá dài.

Váy có đường viền thêu hình hoa lá, chim muông, áo có đính khuy đồng hay khuy bạc; dây thắt lưng bằng bạc gọi là khểm-khắt cùng với đôi bông tai, dây chuyền, nhẫn, vòng tay là những kỉ vật mà người con gái được cha mẹ sắm cho từ lúc còn nhỏ.

4. Phân công lao động

Trong gia đình, người chồng thường làm những công việc nặng nhọc như cày bừa, phát nương, đắp mương phai, săn bắt, sửa chữa nhà cửa. Các em trai làm những việc nhỏ hơn như chăn trâu bò, trông coi ruộng rẫy, theo cha tập việc người lớn... như câu cá, gài chông bẫy... Những công việc nhẹ như gặt hái, trông nom vườn tược, chăn nuôi, hái lượm, nấu nướng, may vá, dệt vải, chăm sóc con cái đều do phụ nữ đảm nhiệm.

5. Quan hệ gia đình, họ hàng, xóm giềng

Các bản mường thường có một số dòng họ. Mỗi họ có nhiều gia đình. Các gia đình gắn bó với nhau về truyền thống, tình cảm và kinh tế.

Về họ hàng, người Lào có họ cha, họ mẹ, họ nhà chồng, nhà vợ. Gửi rể là tập quán phổ biến của nông thôn Lào. Chàng rể phải ở nhà vợ một thời gian nhất định, khi vợ chồng ra ở riêng sẽ được cha mẹ chia cho một phần tài sản.

Người Lào rất quý con và bình đẳng giữa con gái với con trai. Cũng như con trai, con gái được tự do đi dự lễ hội, được hưởng phần tài sản của bố mẹ. Chế độ một vợ một chồng là phổ biến trong các gia đình người Lào.

Tục kết nghĩa anh em, bạn bè và cách sống trung thực, thật thà, nghĩa tình tồn tại khá lâu và vẫn được duy trì.

Ngoài họ hàng, bà con ra, mỗi thành viên trong bản làng còn có mối quan hệ với cộng đồng. Tập quán đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và mến khách là một tập quán tốt của người Lào. Khách đến nhà, sẽ được chủ nhà cầu may và được chào hỏi thân tình, trang trọng.

Tuy nhiên, khách cũng phải biết ý tứ theo đúng phong tục, tập quán để khỏi phật ý gia chủ. Cụ thể, người Lào rất kị sờ đầu, tránh chui qua gầm nhà, dây phơi quần áo. Vì vậy, khách không được chạm vào đầu người khác hoặc xoa đầu trẻ em. Khi đi cần tránh đụng vào hoặc bước qua chân người khác. Khi đi qua mặt các cụ già phải xin lỗi và cúi thấp người xuống một chút. Khi chào phải chắp tay trước ngực, đầu hơi cúi xuống.

6. Lễ cầu yên (xù-khoẳn) và lễ buộc chỉ cổ tay (phục khẻn)

Xù-khoẳn là một nghi lễ đơn giản nhưng thiêng liêng, trang trọng, phổ biến trong nhân dân các bản mường. Chỉ cần cây nến, bông hoa, bát gạo, sợi chỉ trắng là có thể làm lễ xù-khoẳn (vía trở lại). Mâm lễ (pha-khoẳn), người làm lễ (mỏ khoẳn) và nội dung cầu mong trong lễ (xụt-khoẳn) là các yếu tố có ý nghĩa có ý nghĩa cả về tâm linh và nghi lễ.

Phục-khẻn chỉ cần lễ vật là quả trứng luộc, quả chuối chín, nắm gạo, sợi chỉ trắng nhưng với nghi lễ của mình, người Lào buộc chỉ vào cổ tay khách và thể hiện sự chân thành, thận trọng và tin tưởng.

7. Tu hành

Tu hành là một bước ngoặt quan trọng đối với mỗi thanh thiếu niên Lào. Việc tu hành trở thành tục lệ phổ biến nhưng vẫn có những qui định tối thiểu. Trước hết, người xin đi tu phải đủ tuổi, phải là người sinh sống lương thiện, có gia đình, bà con ở một bản mường nhất định; phải có tư cách đúng đắn, sống lành mạnh, không nghiện rượu, đam mê cờ bạc hoặc thuốc phiện và phải có cơ thể lành lặn.

Khi có đủ các điều kiện trên, gia đình và người đi tu phải làm lễ koong-buột (nhập tu) và sau đó là lễ Pa-khên-nác (dâng rồng). Sau thời gian tu hành, nếu gia đình muốn cho con về với cuộc sống trần tục thì phải làm một nghi thức đơn giản là koong-síc.

8. Tục lệ cưới xin

Hình thức cưới xin ở Lào khá phong phú và phản ánh khá rõ nét một hình thức sinh hoạt tinh thần của người Lào và tích tụ nhiều tập quán cổ của mỗi nhóm dân tộc. Tục cưới xin của người Lào từ trước đến nay thường theo trình tự từ dạm hỏi, lễ cưới và lại nhà như ở Việt Nam. Chỉ có điều khác là đến giờ cưới, khi làm lễ, trưởng họ nhà trai chúc, vẩy nước và buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể. Sau lễ cưới, chàng trai ở rể và tham gia lao động với gia đình vợ.

Việc cưới xin ở Lào còn có tục kan-xu (cho nợ lễ cưới). Vợ chồng nghèo có thể lấy nhau, sau khi làm ăn khá giả, sẽ tổ chức đám cưới theo tập tục của bản mường.

9. Ma chay

Trong gia đình, khi có người chết thì những người thân dù đau thương nhưng không khóc lóc thảm thiết mà nén lòng chịu đựng.

Người chết là ông bà, cha mẹ thì con cháu dùng nước dừa non để rửa mặt, dùng giấy in dấu chân tay để thờ cúng. Thi hài được vẩy nước thơm và được người thân lấy đồng tiền được mài sáng cho vào miệng, lấy chỉ trắng buộc một vòng vào cổ, hai tay và hai chân. Dù hoả táng hay chôn thì thi hài của người chết cũng được đặt vào quan tài.

Chọn vị trí chôn cất hay hoả táng trong bãi tha ma, người Lào thường dùng nắm xôi hay quả trứng tung lên. Nếu quả trứng hay nắm xôi rơi ở đâu thì chôn hay hoả táng ở vị trí đó.

Nếu hoả táng thì ba ngày sau, người thân mời bà con và các vị sư ra nhặt xương, đem bỏ vào hũ sành, đưa về đặt ở các tháp trong chùa để tiện thờ cúng.

10. Ca múa nhạc

Dân ca của Lào có nhiều loại như lăm, khắp, xỡng, kạp, ăn-nẳng-xử.

10.1. Lăm

Lăm có nhiều loại nhưng tập trung vào hai nhóm là lăm xẵn và lăm nhao.

Lăm xẳn là những bài ca ngắn nhằm diễn đạt tâm tư, tình cảm của con người. Lời của lăm xẳn thường giàu vần điệu, được sáng tác để ứng khẩu theo tình huống. Còn Lăm nhao là những bài trường ca. Trong lăm xẳn có các loại sau:

- Lăm-loòng có âm điệu ngân dài, bổng trầm tha thiết, phù hợp với miêu tả cảnh mênh mông sông nước, mây trời, làng xóm ven sông.

- Lăm-vay (ở miền Trung Lào) có nhịp điệu sôi nổi, thôi thúc, phù hợp với các điệu múa theo động tác lao động.

- Lăm-tạy (ở Nam Lào) còn gọi là lăm-xỉ-phăn-đon có âm điệu dịu dàng, uyển chuyển; lời giàu hình ảnh ví von, tỏ ý, tỏ tình...

- Lăm-tắt thường biểu diễn khi có khèn đệm kết hợp với múa. Nhịp điệu của lăm tắt êm ái, trầm bỗng. Mở đầu là tiếng "ồ" ngân dài và tiếng hò reo đế theo.

- Lăm-tỡi là loại lăm phổ biến nhất của Lào. Nhịp điệu của lăm tỡi sôi nổi, dồn dập. Loại lăm này được biểu diễn bởi hai người, một trai và một gái, vừa ca vừa múa theo điệu khèn. Điệu múa này (gọi là phõn kiểu, tức phòn) rất nhịp nhàng, tình tứ. Trong lăm tỡi lại có các làn điệu tỡi mang sắc thái địa phương như tỡi pha-mã ở các mường miền Bắc; tỡi ma-hả-xay ở Khăm-muộn, trung Lào....

10.2. Các loại hình ca múa nhạc khác

- Khắp là thể loại dân ca phổ biến tại các tỉnh miền Bắc nước Lào. Đó là những khúc ca ngắn giống các điệu hò ở Việt Nam.

- Xỡng là loại dân ca đơn giản thường kèm theo múa. Có các loại xỡng như xỡng bẵng-phay (ca trong lễ hội pháo thăng thiên), xỡng xuồng-hưa (ca trong lễ hội đua thuyền).

- Àn-nẵng-xử là đọc diễn cảm hoặc ngâm vịnh theo nội dung bài thơ, câu chuyện.

- I-kê-la-khon là hình thức ca nhạc kịch cổ ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu nam nữ.

- Loọng -phêng (hát) gồm những bài hát mới và những bài được tách từ i-kê-la-khon.

- Múa là loại hình dân gian phổ biến nhất. Điệu múa sớm nhất của Lào là múa Bẵng-phay, Lăm-phen, Xỉ-nuôn, Cò-thạt, Đoọc-bua (hoa sen).

- Nhạc cụ gồm Khen (khèn bè), Koong (trống), Koong tũng (trống cơm).

11. Những ngày hội truyền thống ở Lào

1. Bun-xẳng-khạ-chạu-khạu-cằm (hội cúng các vị thần linh, các loại ma tà) tổ chức vào ngày mồng 7 tháng giêng.

2. Bun-khun-khãu (hội vía lúa) tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 2.

3. Bun-ma-kha-bu-xa (hội mừng ngày đắc đạo của Phật) tổ chức vào ngày 15 tháng 3.

4. Bun-phạ-vết (hội Phật Vết-xẳn-đon) tổ chức vào ngày 30 tháng 4.

5. Bun-pi-mày (hội năm mới) tổ chức vào ngày 13-15 tháng 4.

6. Bun-vĩ-xả-kha-bu-xa (hội Phật đản) tổ chức vào ngày 15 tháng 6.

7. Bun-xăm-hạ (hội tống ôn để cầu an, tẩy uế) tổ chức vào tháng 7.

8. Bun-khãu-phản-xả (hội vào chay) tổ chức vào 15 tháng 8.

9. Bun-khãu-pạ-đắp-đin (hội chúng sinh) tổ chức vào 15 tháng 9.

10. Bun-hò-khãu-xạc (hội cúng các oan hồn) tổ chức vào 15 tháng 10.

11. Bun-oọc-phản-xả (hội mãn chay) tổ chức vào 15 tháng 10.

12. Bun-kạ-thỉn (hội dâng lễ vật cho sư) tổ chức vào 15 tháng 12.

13. Bun-thap-luổng (hội tháp luông) tổ chức vào trung tuần tháng 12 tại thủ đô Viêng-chăn là lễ hội lớn nhất có ý nghĩa đề cao và củng cố Phật giáo ở Lào.

                                                                                                 Thảo Uyên

Lượt người xem:  Views:   6
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Lễ tân ngoại giao